Nhân năm Bính Ngọ, tản mạn về ngựa

Năm Ngọ tản mạn về ngựa

Nhân năm Bính Ngọ, tản mạn về con Ngựa

Trần-Đăng Hồng

 

 


Hình 1. Mã Đáo Thành Công – Hình 8 con ngựa – tượng trưng cho sự thành công, phát đạt.

 

Con ngựa là biểu tượng của sự kiên nhẫn, bền bỉ, trung thành và may mắn trong phong thủy. Hình ảnh ngựa (đặc biệt là ngựa phi nước đại) tượng trưng cho sự nhanh nhạy, tài lộc, phát đạt trong kinh doanh và thăng tiến công danh. Trong văn hóa, ngựa đại diện cho năng lực, sức mạnh, tự do và sự dũng mãnh, thường gắn liền với chiến công.

1.Ý nghĩa tượng trưngDưới đây là chi tiết các ý nghĩa tượng trưng của con ngựa:

Sự thành công và tài lộc (Mã đáo thành công): Câu chúc "Mã đáo thành công" xuất phát từ việc ngựa là loài vật trung thành, mang lại may mắn, giúp công việc kinh doanh hanh thông, tăng tiến.

Sự bền bỉ và kiên nhẫn: Với đặc tính chịu đựng chịu khó, ngựa tượng trưng cho sự bền bỉ, kiên trì, không ngại gian khổ.

Sức mạnh và tốc độ: Ngựa đại diện cho sự nhanh nhẹn, dũng mãnh, năng lượng dương và sức sống mãnh liệt.

Sự trung thành và tận tụy: Ngựa được coi là người bạn đồng hành trung thành, đáng tin cậy của con người trong lao động và chiến trận.

Biểu tượng trong phong thủy: Ngựa thuộc hành Hỏa, đại diện cho năng lượng dương, giúp cải thiện vận khí, thu hút tài lộc và tăng cường, sự thăng tiến trong sự nghiệp.

Theo phong thủy, con ngựa không những là con vật trung thành nhất, ngựa còn là biểu tượng của sự kiên nhẫn, bền bỉ, lâu dài, là con vật mang lại sự may mắn, tài lộc. Một trong những biểu tượng Ngựa Phong Thủy thường thấy là hình ảnh Ngựa phi nước đại (hay "Lộc Mã"). Biểu tượng này tượng trưng cho sự phát đạt trong kinh doanh, sự nhanh nhạy và tăng tiến trong tiền tài.

Đôi ngựa (song mã) là hình ảnh đôi ngựa đồng mang nguyên khí của Kim, đem lại tài lộc, công danh, hóa giải sát khí của sao Nhị-Ngũ hành Thổ vốn đem lại họa về bệnh tật, sa sút trong vận 8 là hung khí.

 


Hình 2. Song mã

 

Ba ngựa (tam mã) mang nguyên khí của Thổ, đem lại tài lộc, công danh và phát huy thổ khí.


Hình 3. Tam mã

 

Tám ngựa (bát tuấn) Mã đáo thành công. Tám ngựa mang nguyên khí của vận 8 nên rất mạnh. (Hình 1 trên cùng).

Mã thượng phong hầu (Tượng một con khỉ trên lưng con ngựa) để mong ước cho việc thăng quan tiến chức, thường được đặt ở bàn làm việc.


Hình 4. Mã thượng phong hầu

 

Thánh Gióng – Phù Đổng Thiên Vương

Truyền thuyết kể rằng, Sóc Thiên vương sinh ở một làng nọ, không rỏ thời nào, lúc còn nằm nôi, trong nước có giặc, vua sai sứ giả đi mộ khắp dân gian xem có ai phá được giặc thì ban cho tước lộc. Thiên vương ngồi dậy hỏi mẹ, mẹ trả lời theo như sứ giả nhà vua nói, Thánh Gióng nói: "Thế thì mẹ đem nhiều cơm đến đây cho con ăn".

Chốc lát ăn hết vài chén cơm. Mấy tháng sau, cao lớn hơn trượng, tự ra ứng mộ, Sứ giả đưa đến Kinh sư, vua trông thấy cả mừng hỏi rằng: "Bây giờ ngươi muốn xin gì?" Tâu: "Xin cho tôi một thanh gươm dài, và một con ngựa sắt".

Vua ban cho, rồi Vương cầm gươm nhảy lên ngựa, hét lên một tiếng, xông vào trong trận, chém quân giặc chết ngổn ngang. Giặc tan rồi, bờ cõi được yên lặng. Thiên vương phi ngựa về núi Vệ Linh, trèo lên cây đa mà bay lên trời, để áo và dấu tích lại, đến nay (thời Trần) vẫn còn, người trong thôn gọi cây ấy là cây Dịch Phục. Người trong nước lấy làm lạ, lập đền thờ tế, dùng trà bánh đồ chay mà cúng, nếu có cầu khấn việc gì đều được linh ứng.

Ý nghĩa truyền thuyết là khi quân Tàu xăm lăng bờ cỏi, đứa con nít còn muốn đầu quân chống ngoại xăm, huống chi người lớn - Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách – mọi công dân đều có nhiệm vụ bảo vệ quốc gia.



Hình 5. Phù Đổng Thiên Vương

 

Con Ngựa Thành Troia

Trong thần thoại Hy Lạp, đây là một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất về sự kết hợp giữa mưu trí và lừa dối trong chiến tranh, một biểu tượng đỉnh cao của chiến lược quân sự Hy Lạp. Sau một cuộc vây hãm kéo dài 10 năm không thành công, quân Hy Lạp đã thực hiện một kế hoạch táo bạo do Odysseus vạch ra: họ đóng một con ngựa gỗ khổng lồ, giấu một đội quân tinh nhuệ bên trong, và giả vờ rút quân. Người Troia, sau khi bị thuyết phục rằng đây là một vật hiến tế cho các vị thần, đã kéo con ngựa vào bên trong thành lũy bất khả xâm phạm của mình. Hành động này đã định đoạt số phận của họ. Đêm đến, đội quân tinh nhuệ dùng thang xuống đất, mở cửa thành để quân phục kích bên ngoài vào  bất ngờ cùng đánh chiếm thành Troia một cách bất ngờ, dẫn đến sự hủy diệt hoàn toàn của thành Troia trong một đêm.


Hình 6. Con Ngựa Thành Troia



 CON  NGỰA XÍCH THỐ CỦA QUAN CÔNG

 

Hình 7. Ngựa Xích Thố cùa Quan Vân Trường (Tam Quốc Chí)

 

Theo truyệnTam Quốc Chí, ngựa Xích Thố ban đầu thuộc nhân vật Đổng Trác, sau đó Đổng Trác tặng lại cho nhân vật Lã Bố. Con ngựa này từ đầu đến đuôi dài một trượng, từ chân lên trán cao tám thước, toàn thân một màu đỏ rực như lửa, tuyệt không có một sợi lông tạp nào, ngày đi ngàn dặm, trèo non vượt suối dễ dàng.

Sau khi Lã Bố chết, Xích Thố được Tào Tháo cho người chăm sóc, sau trao lại cho nhân vật Quan Vũ. Khi Tào Tháo tặng ngựa Xích Thố cho Quan Vũ – tức Quan Công hay Quan Vân Trường. Quan Vũ nhận ngựa xong liền phục lạy tạ ơn. Tháo đã phải ngạc nhiên nói:

“        Ta đã bao phen trao tặng nào là mỹ nữ, nào là vàng bạc, nào là gấm vóc, sao chẳng thấy Vân Trường vui, nay cho con ngựa này mà Vân Trường lại tạ ơn hậu như vậy? ”

Nhân vật Quan Vũ cưỡi ngựa Xích Thố qua năm cửa ải chém sáu tướng. Sau khi Quan Vũ bị bắt và bị chặt đầu, bộ tướng của Phan Chương là Mã Trung được ban cho Xích Thố, nhưng con ngựa này bỏ ăn rồi chết.

 

Kỵ binh cúa Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan)

 


Hình 8. Kỵ binh Mông Cổ

Ngựa của Thành Cát Tư Hãn thuộc giống ngựa Mông Cổ bản địa, nổi tiếng với sự dẻo dai, bền bỉ và khả năng thích nghi cao ở thảo nguyên khắc nghiệt. Chúng có vóc dáng nhỏ (130-140 cm) nhưng sức chịu đựng phi thường, là yếu tố then chốt giúp quân đội của ông di chuyển nhanh, thực hiện các cuộc viễn chinh càn quét khắp lục địa Á-Âu.

Sức bền đáng kinh ngạc: Ngựa Mông Cổ có thể sống ngoài trời quanh năm, chịu được nhiệt độ từ +300C mùa hè xuống đến -400C mùa đông, tự tìm cỏ mà không cần chăm sóc nhiều. Chúng không chỉ là phương tiện di chuyển dũng mãnh, linh hoạt mà còn cung cấp sữa, thịt cho quân đội trong những cuộc viễn chinh dài ngày.

Câu nói "Vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu, cỏ không mọc nổi đến đấy"  mô tả sự tàn phá khủng khiếp của quân đội Mông Cổ trong các cuộc chinh phạt từ thế kỷ XIII. Nó ám chỉ sự hủy diệt hoàn toàn, sự tàn sát và nỗi sợ hãi tột cùng mà quân đội này mang lại cho bất cứ nơi nào họ đi qua trên khắp châu Á và châu Âu. Người Mông Cổ là dân tộc thiện chiến bậc nhất lịch sử.

 


Hình 9. Kỵ binh Mông Cổ chiến đấu khi lâm trận

 

Tuy quân Mông Cổ san bằng cả Châu Âu, Châu Á nhưng đại bại khi xâm lược  Đại Việt.

Nhưng cả ba lần xâm lược Đại Việt, với 1 triệu quân, thì bị đánh cho đại bại. Chủ tướng Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để quân lính "kéo" về Vân Nam. Toa Đô, dũng tướng khét tiếng của Mông Cổ bị rơi đầu. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp bị bắt, trở thành vật tế sống ở mộ các vua Trần…

Cả 3 lần đều thất bại (lần 1:1/1258 – 29/1/1258; lần 2: 12 âm lịch 1284 đến tháng 5 âm lịch 1284; lần 3: 1287-1288).

Lý do đơn giản là người dân Đại Việt không muốn bị người Tàu cai trị, không muốn nước Việt trở thành một tỉnh của Tàu.

 


Hình 10. Hình ảnh Kỵ binh Việt Nam đời vua Lê

 

Con Ngựa Vằn Zebra

 



Hình 11. Ngựa vằn

Một cách tổng quát, sọc vằn thẳng đứng thấy ở phần đầu, cỗ, ngực và phần trước thân, sọc xéo thấy ở phần sau của thân, còn sọc ngang thì ở đùi và chân. Tuy nhiên, cùng trong một loài, hay ngay cả trong cùng gia đình gồm cha mẹ anh chị em, không có con nào giống con nào về bộ sọc. Bộ sọc coi như căn cước (idendity) của mỗi con ngựa, giống như chỉ tay ở loài người.

Bộ lông sọc vằn ở ngựa vằn uốn theo kiểu cách nghệ thuật, sáng ánh ngời tuyệt đẹp lạ thường dưới ánh nắng mặt trời mà không có một loài thú 4 chân nào có được.

Các nhà khoa sinh học, từ bao thế kỷ nay, đã đưa ra nhiều giả thuyết để lý giải tại sao con ngựa vằn có được một bộ lông sọc tuyệt đẹp, rất riêng biệt mà các thú 4 chân khác không có, mà chỉ có ở Phi Châu chứ không phải ở lục địa khác, và như vậy bộ lông sọc vằn có nhiệm vụ gì?

Thuyết xua đuổi ruồi chích hút máu (parasitic fly repellent). Đây là thuyết được công nhận hiện nay. Kể từ 1930. ý tưởng cho rằng các loài ruồi ký sinh như ruồi tsetse, con mòng ở ngựa và trâu bò, không thích chích hút máu ở con thú có sọc vằn. Kể từ đó có nhiều thí nghiệm để chứng minh điều này, và cho rằng chính sọc vằn là do loài ngựa tiến hóa phát triển để sinh tồn ở môi trường Phi Châu đầy ruồi chích hút máu. Các loài ruồi chích hút máu này gây nhiều bịnh giết hại thú như ruồi tsetse gây bệnh ngủ hay tabanid flies (horseflies) gây bịnh, v.v.

 

Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị Vương Quốc Anh đam mê nuôi, lai tạo, thuần chủng và cởi ngựa.

Từ nhỏ, Elizabeth II đã rất thích ngựa. Trong suốt thời gian trị vì, điều này trở thành một trong những hoạt động giải trí chính của bà, đặc biệt chú trọng đến việc nhân giống ngựa thuần chủng để đua ngựa.

Khi còn nhỏ, lúc 4 tuổi, Elizabeth được tặng con ngựa đầu tiên, một con ngựa Shetland tên là Peggy. Bà bắt đầu cưỡi ngựa lúc 6 tuổi. Đến năm 18 tuổi, bà đã là một người cưỡi ngựa giỏi và tiếp tục cưỡi ngựa để giải trí cho đến khi ngoài 90 tuổi.

 

 

Hình 12. Nữ Hoàng Elizabeth II cởi ngựa khi còn rất trẻ.

 

Trong vai trò là người đứng đầu chế độ quân chủ, Elizabeth cũng cưỡi ngựa trong các nghi lễ. Từ lần xuất hiện đầu tiên với tư cách là công chúa vào năm 1947 và trong suốt thời gian trị vì với tư cách là nữ hoàng cho đến năm 1986, bà đã tham dự lễ duyệt binh Trooping the Colour hàng năm trên lưng ngựa.

Elizabeth sở hữu nhiều ngựa thuần chủng để sử dụng trong các cuộc đua, ban đầu bà thừa kế đàn ngựa giống và ngựa đua của cha mình, Vua George VI, vào năm 1952. Cho đến cuối những năm 1960, bà đã cho đua những con ngựa do chính mình lai tạo cũng như những con ngựa được nuôi bởi Trại ngựa Quốc gia.

Tính đến năm 2013, những con ngựa thuộc sở hữu của Nữ hoàng đã thắng hơn 1.600 cuộc đua, và ngoại trừ Epsom Derby, đã thắng tất cả các cuộc đua Cổ điển của Anh. Bà cũng đã thắng một cuộc đua Cổ điển của Pháp, Prix de Diane, vào năm 1974. Bà được vinh danh là Chủ sở hữu vô địch đua ngựa đường bằng của Anh vào năm 1954 và 1957, vị quân chủ đương nhiệm đầu tiên đạt được danh hiệu này hai lần.

Không rõ suốt cuộc đời Bà đã sở hửu bao nhiêu con ngựa, chỉ biết sau khi Bà từ trần, Hoàng gia đã trao cho con trai trưởng cúa Bà là vua King Charles  hiện nay khoảng 100 con ngựa thuần chủng.

 


Hình 13. Nữ Hoàng cởi ngựa rong chơi ở vùng quê Windsor.

 


Hình 14. Hai năm trước ngày từ trần, Nữ Hoàng còn cởi ngựa rong chơi mặc dầu mùa đông

 Bạch Long Mã của Đường Tăng (Tam Tạng).

Trong Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, Bạch Long Mã hay Tiểu Bạch Long dưới hình hài của một con ngựa trắng, chở Tam Tạng đi lấy kinh. Nguyên thủy, Tiểu Bạch Long là con trai của Tây Hải Long Vương, ngày trước là Tam Thái Tử của Tây Hải Long Cung. Bạch Long Mã là một người khôi  ngô tuấn tú song vì nảy sinh vấn đề với cha, làm hỏng báu vật mà Ngọc  Hoàng Thượng đế ban cho, bị cha bẩm báo lên trên trời nên đáng lẽ bị  tội chết. Vì thế mà Quan Thế Âm Bồ Tát đã cho phò giá Đường Tăng để  chuộc lại những lỗi lầm đã gây ra. Khi phò giá Đường Tăng ông dưới  hình thức một con ngựa màu trắng.

Tượng Bạch Long Mã chở Đường Tăng
 

Tượng Bạch Long Mã tại chùa Linh Quang, Đà Lạt


Những thành ngữ có liên quan đến Ngựa.

Thời gian nhanh như “Bóng câu qua cửa sổ”. “Câu” là ngựa, ngọ hay mã, chứ không phải chim bồ câu như nhiều người nghĩ.

 


Hình 15. Vó câu phi mã

 

Thật tội nghiệp cho kiếp nô lệ “làm thân trâu ngựa” cho chủ hay cho kẻ có quyền có tiền, mặc dầu phải tận trung tận lực “Khuyển mã chí tình”, nhưng cuộc sống chẳng ra gì, ngày càng khổ cực, nhất là trong thời kinh tế khủng hoảng, “lạm phát phi mã” hiện nay.

Hình ảnh anh hùng của bậc nam nhi khí phách là ra chiến trận trên lưng “thiên lý mã” chạy ngàn dặm, xem cái chết nhẹ như lông hồng, lấy “da ngựa bọc thây”, chứ không ru rú trong nhà. ‘’Làm trai chết ở sa trường, còn hơn chết nhục trên giường thê nhi’’- chết “Thượng mã phong” trên bụng thê nhi. Là kẻ anh hùng, đôi khi phải “đơn thương độc mã” cùng đấu với tướng địch, hay phải điều “thiên binh vạn mã” trong chiến trận.

Ngày nay, xã hội đảo điên, luân lý suy đồi, ra đường dễ gặp côn đồ “Đầu trâu, mặt ngựa”, nhiều băng nhóm “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” cấu kết làm hư xã hội, thêm vào đó nhiều thanh niên ăn học chưa thông, lại tự cao tự đại, hiếu thắng, thiếu sự chín chắn, suy nghĩ nông nỗi, không biết tính khiêm tốn nên thường dở chứng “ngựa non háu đá”.

 


Hình 16. Ngựa non háu đá

Người ăn nói “thẳng như ruột ngựa” thường bị cấp trên không ưa thích. Trong xã hội nhiễu nhương như thế, chớ nên giỡn mặt chỉ trích cấp trên, mà gặp nguy nan, thiên hạ gọi hành động đó là “mó dái ngựa”, bị “ngựa đá ngược” thì chết không kịp ngáp, bởi vì cỗ nhân dạy chớ đùa giỡn với “Mõm chó vó ngựa". Trong xã hội, không hẳn bạn bè nào cũng tốt, mà coi chừng có kẻ tiểu nhân, bạn bè phản phé “ngựa đá giò lái”, đâm sau lưng mà chết tức tưởi.

Chính vì vậy mà trong nghị trường đa số thuộc loại “Chỉ hươu nói ngựa” để làm vừa lòng cấp trên. Chuyện kể rằng hoạn quan Triệu Cao mưu đồ diệt vua Tần Nhị Thế, nhưng chưa dám ra tay vì chưa biết ai còn trung với nhà Tần. Nhân dịp trong buổi họp cùng các quan cận thần, Triệu Cao biếu vua Tần Nhị Thế một con hươu, nhưng nói với vua đó là con ngựa. Nhị Thế cười nói: “Thừa tướng lầm đấy chứ! Sao lại gọi con hươu là con ngựa?” Rồi Nhị Thế hỏi các quan, nhiều người im lặng, nhưng cũng có người hùa theo Triệu Cao nói là ngựa, trong khi một số ít nói đó là con hươu. Triệu Cao bèn tìm cách hãm hại những ai nói đó là hươu. Từ đó ai nấy đều khiếp sợ Triệu Cao, để y giết Tần Nhị Thế và lập Tử Anh lên thay, tức là Tần Tam Thế.

Trên chính trường, có quá nhiều nhân vật tiếng tăm nhưng phát ngôn chẳng ra gì, làm trò cười cho thiên hạ, đúng là “Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy”, một lời trót nói bốn ngựa đuổi không kịp.

Trong một xã hội nhiễu nhương như vậy, để làm màu mè che mắt thế gian, cũng có nhiều đoàn thanh tra đến địa phương, nhưng điều tra qua loa cho có chuyện, y như việc “cởi ngựa xem hoa”. Tuy xã hội lập nhiều lao tù để giam giữ kẻ bất lương, nhưng thiếu chính sách giáo hóa đúng đắn với các phần tử “Như ngựa bất kham”, cứng đầu khó dạy như “Ngựa đứt dây cương”, nên khi ra khỏi tù thì “Ngựa quen đường cũ”. Câu sau cùng cũng ám chỉ các cô gái bán phấn, sau khi có kẻ hào hiệp cứu vớt, nhưng sau cùng cũng trở lại làm nghề đỉ điếm.

Trong cuộc đời, khi gặp một biến cố, không ai có thể biết trước cái tốt hay cái xấu, cái may hay cái rủi sẽ xảy ra, như chuyện “Tái ông mất ngựa”. Vì vậy, cũng đừng nhìn cái hiện tại để đánh giá là thành công hay thất bại, như chuyện chạy marathon, người chạy dẫn đầu chưa chắc là kẻ thắng cuộc sau cùng, cũng giống như “Ngựa về ngược” hay “Ngựa chạy nước rút” trong cuộc đua ngựa.

Cũng trong cuộc đời, không có gì đau bằng “bị ngựa đá” khi bị tình phụ, hay bị “ngựa đá giò lái” do bạn bè phản trắc, hay các chính khách bị “thay ngựa giữa dòng”. Chắc chắn ai ai cũng có nỗi đau “Bị té ngựa” không nhiều thì ít, khi thi cữ công danh chưa toại, hay làm ăn thất bại, gặp xui xẻo trong đời. Một xã hội gọi là tốt khi mọi người biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”.

Thanh niên mà không có lập trường, nay ý này, mai ý khác, được so sánh với “Lông bông như ngựa chạy đường quai”, còn ăn nói cà chớn không ra gì, tính tình cà tửng thì mang danh đồ “Ngựa búng”, còn đang ngoan ngoãn, công việc đang trôi chảy tốt đẹp mà lại bỏ dỡ làm hư nửa chừng thì là “ngựa trở chứng”. Khi lo âu, tinh thần căng thẳng, con người thẫn thẫn thờ thờ, mặt  trở thành “Mặt dài như mặt ngựa”.

Ngày xưa, người phụ nữ bị ràng buộc nhiều bởi lễ giáo, giống như con ngựa, ngoài dây cương còn phải bịt một bên mắt "Có chồng như ngựa có cương". Nếu không, ra đường mà ngó trước ngó sau, lẳng lơ với trai thì bị gọi là "đồ ngựa rượt", "đồ đĩ ngựa", "đồ quá ngựa", thứ "ngựa dập voi giày". Ngược lại, thật tội nghiệp cho những cô gái ngây thơ, tin lời trai để rồi bị "quất ngựa truy phong" mà hỏng cả đời.

Trong những ngày tháng đen tối sau tháng 4/1975, tàn dư ‘’Mỹ Ngụy’’ bị đọa đầy trong trại cải tạo, vợ con bị áp buộc đi vùng’’kinh tế mới’’ đầy khổ ải, đói khổ muôn vàn, người dân Miền Nam ước mơ qua hình ảnh con NGỰA (Mã) và con RÙA (Qui) tùy theo vị trí đứng trước hay đứng sau:


Hình 17. Qui (Rùa) Mã (ngựa): Nói lái: Qua Mỹ

Đây là ước muốn của người Miền Nam sau 1975 mong vượt biên được an toàn để được qua Mỹ.

 


Hình 18. Mã (ngựa) Qui (rùa): Nói lái: Mỹ qua

Đây cũng là ước muốn của người Miền Nam sau 1975, mong Mỹ trở lại VN để cứu vớt họ sau thảm cảnh Cộng Sản 4/1975, thà sống với Mỹ còn hơn sống trong gông cùm Cộng Sản.

 

 

Xe thổ mộ - xe ngựa

Xe ngựa, trong vùng Sài Gòn gọi là xe thổ mộ. Người ta giải thích, gọi xe thổ mộ vì những chiếc xe ngựa đầu tiên ở Thủ Dầu Một, khung và mui xe khum giống chiếc quan tài, xe dùng để chở quan tài ra nghĩa địa. Thổ Mộ là tên xưa của Thủ Dầu Một hay nói trại từ ‘’Thảo Mã’’ tiếng Quãng Đông.

Xe thổ mộ là loại phương tiện đi lại phổ biến ở vùng Sài Gòn-Gia Định của Việt Nam vào những năm 1950 của thế kỷ XIX. Đây là một loại xe ngựa (một ngựa kéo) và được bắt nguồn từ kiểu cỗ xe song mã sang trọng của Pháp, sau đó được người dân miền Nam Việt Nam đã chế tác, cải tiến lại cho phù hợp với điều kiện và địa hình của miền quê sông nước, đồng thời kiểu xe cũng chịu ảnh hưởng nhất định từ những chiếc xe ngựa của người Trung Quốc thời cổ. Bình Dương được xem là kinh đô khởi nguồn của dòng xe này.

Hình ảnh chiếc xe ngựa với những tiếng kêu lách cách và cặp bánh gỗ to đã trở nên thân thương, quen thuộc với bao thế hệ người miền Nam thời trước, cách đây trên 60-70 năm. Xe dùng để chở người đi lại trong vùng hay vận chuyển hàng rau cải từ những vùng quê lên Sài Gòn. Mỗi khi có việc đi lại trong vùng, đi mua sắm, thăm viếng, cưới xin, người ta đều chọn phương tiện xe ngựa vì tính tiện lợi của nó. Thời điểm lúc bấy giờ, xe ngựa vừa nhanh chóng, vừa tiện lợi bởi người ta có thể lên xuống bất kỳ chỗ nào. Sau này, khoảng 1960, xe thổ mộ được thay thế bởi xe Lam tức xe Lambretta 3 bánh.

Những thập niên 1940, 1950 là giai đoạn phát triển mạnh của xe thổ mộ, tại chợ Thủ Dầu Một có đến 3 bến xe thổ mộ nhộn nhịp mà lúc tập trung đông nhất cũng trên 50 chiếc. Không chỉ vậy Thủ Dầu Một còn có nhiều trại đóng xe thổ mộ có tiếng với thùng xe đẹp, trang nhã, bánh xe bền chắc. Xe sản xuất tại Thủ Dầu Một còn được gọi là xe "thùng Thủ" để phân biệt với các nơi sản xuất khác và cũng để khẳng định "đẳng cấp" của mình. Xe thổ mộ khi đó có vai trò rất quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa, hành khách vì các phương tiện giao thông đường bộ chưa phát triển


Hình 19. Xe Thổ mộ ở vùng Sài Gòn ngày xưa

 

Ở Miền Trung, không có xe thổ mộ mà là xe ngựa, hình dạng cũng tương tự xe thổ mộ, nhưng bên trong có 2 hàng ghế ngồi, trái với thổ mộ khách hàng ngồi bệt xuống sàn xe.

 


Hình 20. Xe Ngựa ở Nha Trang - Thành Diên Khánh ngày xưa

  

CON NGỰA TRONG THI CA

Mà là NGỰA, Ngựa là một trong lục súc vừa giúp kéo xe vừa giúp cho phương tiện giao thông được tiện lợi, cũng là góp công chinh chiến trong kỵ binh.

Khi thành công đuổi được quân Mông ra khỏi đất nước trong 3 lần xâm lược, vua Trần Nhân Tôn làm lễ tạ ơn trời đất tại điện Chiêu Lăng. Nhận thấy các ngựa đá ở trước lăng, con nào chân cẳng cũng lấm đầy bùn đất, vua Trần cho rằng nhờ khí thiêng sông núi nên đến ngựa đá cũng ra trận và góp phần đánh thắng quân thù, do đó Ngài xúc cảm làm hai câu thơ chữ Hán:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu

 

(Ngựa đá hai phen phò xã tắc

Âu vàng muôn thuở giữ sơn hà)

 

NGỰA là Ngựa, mà CÂU  cũng là Ngựa, mà lại là ngựa non, ngựa giỏi nữa là đằng khác. Có thành ngữ THIÊN LÝ Mà   hay THIÊN LÝ LONG CÂU      để chỉ những con tuấn mã có sức mạnh và dẽo dai như rồng, một ngày có thể vượt trên một ngàn dặm đường. Sức chạy mau của long câu còn cho ta thành ngữ BẠCH CÂU QÚA KHÍCH    . Có nghĩa: Con ngựa câu trắng thoáng qua khe cửa để chỉ thời gian qua thật nhanh, trong tiếng Việt ta nói thành "Bóng Câu Qua Cửa Sổ".

Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều có câu:

BÓNG CÂU thoáng bên mành mấy nỗi,

Những hương sầu phấn tủi sao xong?

Và  thêm một câu nữa:

 Mồi phú quý nhử làng XA MÃ,

 Bả vinh hoa lừa gã công khanh.

   

Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Dập dìu tài tử giai nhân,

NGỰA XE NHƯ NƯỚC, áo quần như nêm.

 

Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn, ra đời trong khoảng năm 1741 giai đoạn sơ kỳ Cảnh Hưng và về sau được nhiều người dịch ra thơ Nôm, có câu thơ hào hùng trong đoạn mở đầu:

Chí làm trai dặm ngàn DA NGỰA,

Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao !

 

Cuối cùng, gần đây nhất, cuộc bút chiến giữa hai nhà Nho: Tôn Thọ Tường (1825- 1877) người ra cộng tác với Pháp, và Phan Văn Trị (1830-1910), một nhà Nho khác nhưng lại tranh đấu chống Pháp, là một giai thoại văn chương lý thú. Cuộc tranh luận bằng thơ văn giữa hai ông tuy gay go nhưng rất có tính cách văn hóa ở trên văn đàn. Ông Phan Văn Trị  làm thơ cực lực lên án Ô. Tôn Thọ Tường hợp tác với Pháp là sai trái, là phản bội đất nước, và dĩ nhiên ông Tôn Thọ Tường cũng đối đáp lại bằng thơ văn lỗi lạc của mình để đưa ra lý lẽ biện hộ cho việc hợp tác với thực dân.

Cước chú: Để hiểu rõ bài biện hộ cho mình của Tôn Thọ Tường, nên nhắc lại chuyện Tam Quốc. Một lần nọ, Lưu Bị vua nước Thục qua nước Ngô. Vua Ngô Tôn Quyền và các tướng lập mưu muốn nhân dịp này giết chết Lưu Bị, nhưng nhờ Khổng Minh là quân sư biết trước nên bày mưu để Lưu Bị cưới được em gái Tôn Quyền, tức là “Tôn Phu Nhân”, nhờ sự giúp đỡ của vợ và nhạc mẫu là mẹ Tôn Quyền mà Lưu Bị an toàn về nước Thục. Tôn Phu Nhân đã theo chồng, như vậy là phản lại anh mình. Ông Tôn Thọ Tường đã ví mình như Tôn Phu Nhân ấy qua bài thơ:

TÔN PHU NHƠN QUY THỤC của Tôn Thọ Tường

Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng,

Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông!

Lìa Ngô, bịn rịn chòm mây bạc,

Về Hớn, trau tria mảnh má hồng.

Son phấn thà cam dày gió bụi,

Đá vàng chi để thẹn non sông.

Ai về nhắn với Châu Công Cẩn:

Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng

và Cử nhơn Phan Văn Trị đã họa lại như sau:

 

Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,

Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông.

Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng,

Duyên về đất Thục đượm màu hồng.

Hai vai tơ tóc bền trời đất,

Một gánh cang thường nặng núi sông.

Anh hỡi! Tôn Quyền: anh có biết?

Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.

 

 

Reading, Tết Bính Ngọ (17/2/2026)

Trần-Đăng Hồng, PhD

https://www.facebook.com/groups/124948084959931
 
PHỤ TRÁCH BIÊN TẬP
 
Sáng lập & Cố vấn:

TRẦN ĐĂNG HỒNG, PhD

Ban Biên tập :

VÕ THANH NGHI
vothanhnghiag@yahoo.com.vn
NGUYỄN THANH LIÊM
liem68dvb@gmail.com


Địa chỉ liên lạc: thnlscantho.3@gmail.com


Đặc San:
Đặc san XUÂN CANH DẦN (2010)
Đặc san XUÂN TÂN MÃO (2011)
Đặc san XUÂN NHÂM THÌN (2012)
Đặc san XUÂN QUÝ TỴ (2013)
Đặc san XUÂN GIÁP NGỌ (2014)
Đặc san XUÂN ẤT MÙI (2015)
Đặc san XUÂN BÍNH THÂN (2016)
Đặc san XUÂN ĐINH DẬU (2017)

Đặc san "Lưu Bút Ngày Xanh I (2010)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh II (2011)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh III
https://www.facebook.com/groups/124948084959931/
 
https://www.facebook.com/groups/124948084959931/
 
Today, there have been 365503 visitors (676072 hits) on this page!