Rừng ĐNA - Phần 2

Rừng Tự Nhiên Việt Nam

Nguyễn Lương Duyên


Phần 2
. Kỷ địa chất hiện nay là Kỷ Đệ Tứ (Quaternary), kéo dài từ 2.6 triệu năm cho đến hiện tại. Thế Cánh Tân (Pleistocene), thường biết là thời kỳ băng hà với những giai đoạn băng tiến lạnh và gián băng ấm hơn xen kẽ nhau đến 20 chu kỳ, kéo dài từ 2.6 triệu đến 11700 năm trước, băng hà ghi nhận lan xuống tới vĩ độ 40bắc bán cầu, có lúc che phủ 30% đất liền. Nguyên nhân của các chu kỳ băng hà là do sự biến đổi độ nghiêng của trục quay trái đất. Biển tiến thoái nhiều lần. Động vật có vú lớn như khổng tượng, bò hương, báo nanh kiếm.. phát triển vượt bậc. Thực vật có hoa hạt kín phát triển dạng giống như hiện nay. Người đứng thẳng (Homo erectus) xuất hiện khoảng 1.8 triệu năm trước. Khoảng 300,000 năm trước Người tinh khôn (Homo sapiens) xuất hiện, phát triển, thiết lập nền văn minh khai thác thiên nhiên, chế ngự lửa, đã thay đổi sâu sắc diện mạo và hướng phát triển của địa cầu. Chu kỳ băng hà chót diễn ra cách nay 126,000 đến 11,700 năm, và các thú lớn tuyệt chủng có thể vì biến đổi khí hậu và bị săn giết bởi con người.

Sau thời kỳ băng hà chót là thế Toàn Tân (Holocene) từ 11,700 năm trước đến nay. Khí hậu ổn định, ấm lên, với vài đại hạn hán toàn cầu, ảnh hưởng đến suy tàn một vài nền văn minh. Các nền văn minh của nhân loại phát triển rực rỡ trong thế này, nông nghiệp định hình. Hoạt động của loài người đã ảnh hưởng mạnh lên các hệ sinh thái, và tài nguyên thiên nhiên, địa chất. Đa dạng sinh học giảm sút nhanh chóng, khí hậu có chiều hướng nóng toàn cầu do việc thải khí nhà kính vào không khí.


 
Khu vực ĐNA trong kỷ Đệ Tứ có những biến đổi, chuyển dịch lớn theo chu kỳ băng tiến-gian băng. Giai đoạn băng cực đại trong thế Cánh Tân, mực nước biển thấp hơn hiện tại đến 120 m, để lộ những cầu nối đất liền nơi thềm lục địa Sunda với khu vực Borneo-Java-Sumatra. Khí hậu gió mùa yếu đi, khí hậu trở nên khô lạnh, trảng cỏ cây bụi lan rộng, nhưng vẫn còn khá nhiều rừng mưa nhiệt đới tồn tại vùng Borneo, làm trữ khu cho trao đổi đa dạng sinh học đặc thù khu vực ĐNA. Khá nhiều loài bị diệt chủng. Có vài giai đoạn khí hậu gió mùa không ổn định, tạo đại hạn hán dài.

Sang thế Toàn Tân (Holocene), cách nay 11,700 năm, dân cư vùng ĐNA bắt đầu chuyển từ đời sống thu hái – săn bắt sang nông nghiệp, sớm nhất có lẽ nền văn hoá Hoà Bình (khoảng 12000-10000 năm trước) với canh tác ngũ cốc, củ quả, và lúa khoảng 8000năm trước. Đây có thể là cái nôi cho canh tác lúa gạo trên thế giới. Khoảng 4000 năm trước, dân cư vùng Nam Đảo (Austronesian) di cư sang lục địa, mang theo nền văn minh, ngôn ngữ, canh tác, kỹ thuật và chính trị cho các cộng đồng đá mới Bắc Sơn (Bắc Việt), Sungai Batu (Mã Lai), hai vương quốc sớm là Phù Nam (châu thổ Cửu Long), Chiêm Thành (Trung Việt Nam), và các vương quốc trễ hơn, Srivijaya (NamDương), Khmer, Pagan (Miến). Hoạt động của con người đã thay đổi cảnh quan, dòng chảy, thuần hoá gia súc. Khí hậu có những lúc xảy ra đại hạn hán, dưa đến sự suy thoái nền văn minh như Khmer chẳng hạn.

Rừng ĐNA trong kỷ Đệ Tứ, chuyển biến mạnh theo chu kỳ băng hà, gian băng. Rừng mưa nhiệt đới ẩm chuyển thành rừng khô thưa, hay các trảng cỏ có cây, hay rừng rụng lá gió mùa, với những loài thích ứng cho khí hậu lạnh và khô. Rừng mưa ẩm nhiệt đới chỉ còn tồn tại từng mảng nơi vùng núi hay các đảo Borneo Sumatra, trở thành trữ khu thiên nhiên duy trì đa dạng sinh học. Mực nước biển sụt thấp đến 120 m trong thời kỳ băng hà, tạo ra vùng Sundaland rộng lớn, với rừng và trảng cỏ đan xen. Thời kỳ gian băng, khí hậu ấm và ẩm giúp rừng mưa phát triển. Thời kỳ băng hà cuối diễn ra cách nay 23,000 đến 19,000 năm cho thấy một cảnh quan rất khác biệt với hiện nay. Loài đại mộc tiêu biểu của rừng mưa vùng ĐNA là các loài họ Dầu (Dipterocarpaceae) tồn tại và thích ứng qua hàng triệu năm. Rừng núi cao có họ Dẻ sồi Fagaceae. Rừng trung gian là rừng khô thưa, thích ứng với hạn và lửa rừng. Khoảng 11,700 năm trước, khí hậu ấm, băng tan, mức biển dâng cao nhanh chóng, và diện mạo vùng ĐNA rất gần như ngày nay. Rừng mưa ẩm nhiệt đới chiếm vùng thấp, xen với rừng vùng núi cao. Đa dạng sinh học rừng vùng thấp hao hụt so với rừng vùng núi cao. Khai quật khảo cổ cũng cho thấy có lẽ hoạt đông của con người dùng lửa đã có ảnh hưởng đến cấu trúc và thành phần rừng rất sớm, cách nay khoảng 37,000 năm.
 
 
 
                        B. Quá TrìnhHình Thành Tiến Hoá
                         Rừng Việt Nam qua các Thời Kỳ Địa Chất
Trong những thực vật bậc cao làm nên những quần hệ rừng trên thế giới, nhóm thực vật hạt trần, những loài cây có quả nón, xuất hiện trước nhất khoảng cuối kỷ Devon-đầu kỷ Than đá, cách nay khoảng 360 triệu năm. Sau đó rất lâu, đến khoảng đầu kỷ Creta, cách nay khoảng 140 triệu năm mới thấy xuất hiện rõ ràng những thực vật có hoa hạt kín. Nhóm thực vật có hoa này khởi đầu từ những khu vực nhiệt đới ẩm, đã phát triển, tiến hoá (song hành với sự tiến hoá của côn trùng) và thích ứng nhanh chóng, lan toả chiếm lĩnh mặt đất, tạo nên những quần hệ thực vật vô cùng đa dạng về cấu trúc và chủng loài khắp trái đất, từ bờ biển đến núi cao, từ xích đạo tới cận vùng cực. Theo ước tính hiện nay của Viện Kew Gardens, Anh quốc, trong số 391,000 loài thực vật có mạch, có 369,000 loài là thực vật có hoa, chiếm 94% tổng số loài thực vật hiện hữu.
 
Rừng tự nhiên trên lãnh thổ Việt Nam với cấu trúc và thành phần thực vật gần hiện tại có lẽ hình thành và tiến hoá từkhoảng 23 triệu năm trước trong thế đầu tiên Miocene của Kỷ Tân cận (Neogene) thuộc Đại Tân Sinh. Trong khoảng thời gian từ 23 triệu năm đến 5.3 triệu năm trước, rừng mưa lấn đến tận Bắc Trung hoa và Nhật bản. Rừng mưa rút về phía Nam nhường chỗ cho rừng cây lá rộng thường xanh bán nhiệt đới trong suốt thế Pliocene, trải dài từ 5.3 triệu đến 1.8 triệu năm trước. Thời kỳ này rừng Việt Nam có một vai trò quan trọng là một trữ khu, một vườn địa đàng cho phát triển đa dạng sinh học. Trước đó rừng đã có những dạng rất khác theo những biến đổi địa chất do những va chạm các mảng lục địa, nâng cao dãy Himalaya biến đổi vùng thành khí hậu gió mùa đậm nét, biển tiến biển thoái trong những thời kỳ băng hà-gian băng xa xăm…khi thì rừng mưa ấm ẩm nhiệt đới bành trướng, xen lẫn rừng khô thưa, rừng núi cao, kéo dài cả nhiều trăm triệu năm.

Đại Cổ Sinh (gồm các kỷ Silur, Devon, Than, Permi), lãnh thổ Việt Nam nằm chìm dưới biển cổ nông với trầm tích vôi rất dầy từ sinh vật biển, vùng Hạ Long, ngoại trừ ba địa khối Kontum-Pleiku, địa khối Sông Chảy-Fansipan, và địa khối Phong Nha-Kẽ Bàng, tuổi trên 2 tỷ năm. Trầm tích này là nền tảng cho những khu rừng sơ khai trên đá vôi tạo nên các vùng karst (phong hoá vôi bởi acid carbonic yếu tạo thành hang động đá vôi, như kiểu rừng Phong Nha) từ giữa kỷ Devon đến cuối kỷ Fermi (390 đến 260 triệu năm trước). Khoảng 400-200 triệu năm các mảnh vỡ của siêu lục địa cổ Gondwana di chuyển lên phía bắc, kết hợp hình thành vùng Đông Á châu trong đó có Việt nam. Vùng dãy Trường Sơn có thể đã hình thành từ 340-250 triệu năm trước, cùng thời với lớp đá vôi Vịnh Hạ long. Đuôi Nam Trường sơn, vùng Đông nam bộ nằm trên nền đá basalt và phù sa cổ, hiện nay có cao độ từ 0-986 m. Trong kỷ Than và Permi đáy biển được nâng thành đất liền, tạo nhiều vùng ngập úng, thích hợp cho phát triển của Thạch tùng và các Dương xỉ mang hạt là thành phần tạo nên các mạch than miền ở miền Bắc về sau. Biển thoái. Hình thành mỏ than Thái Nguyên, Quảng Ninh. Kỷ Permi cũng bắt đầu hình thành túi dầu hoả ở các bồn trũng, tiếp diễn qua kỷ Trias. Cuối đại Cổ Sinh, dãy Trường Sơn bắt đầu hình thành từ sông Cả đến Đông Nam Bộ và tiếp tục diễn biến, nâng cao tạo thành khu vực đa dạng cao nguyên và núi cao như Bạch Mã, Ngọc Lĩnh về sau.

Đại Trung Sinh (gồm các kỷ Tam điệp, Jura, Phấn), kéo dài từ 250 triệu đến 66 triệu năm trước) sự va chạm những khối lục địa lớn Á-Âu, Ấn -Úc, Phi luật Tân với nhau đưa đến quá trình nổi núi, phun trào tạo nên đá basalt, và bồi tụ phù sa và tích tụ hữu cơ của các sông, tạo các bồn trầm tích than và khoáng sản. Kỷ Jura quá trình phun trào nổi núi mạnh, tạo nhiều đứt gãy, khoáng hoá. Dãy Hoàng Liên Sơn, cao nguyên Đà Lạt hình thành trong kỷ Phấn, cách nay độ 112-88 triệu năm, diễn biến nâng cao liên tục với ngọn Fansipan cao nhất Việt Nam. Đáy biển nâng cao thành đất liền. Bồi đắp trầm tích sông biển khoảng cuối đại, manh nha hình thành đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Khí hậu tổng quát là nóng, lượng CO rất cao, 1700 ppm, lượng Oở mức 150% so với hiện tại.  Biển tiến sâu trong kỷ Tam điệp, cho thấy thời kỳ ấm áp á nhiệt đới, bắt đầu có sự hình thành hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm nơi thấp. Trong nửa giai đoạn đầu của đại Trung Sinh, các loài hạt trần gồm cây mang chuỳ, tuế, dương xỉ thống lĩnh các hệ sinh thái rừng núi cao. Kỷ Phấn cũng có nhiều hoạt động phún xuất, bên cạnh các loài hạt trần và dương xỉ, thảm thực vật rừng bắt đầu xuất hiện những loài mới có hoa hạt kín cổ, có lẽ đến từ các mảng lục địa do gắn kết nhau.Trong khoảng thời gian xuất hiện và phát triển của thực vật có hoa trong kỷ Phấn (Creta, 140 đến 66 triệu năm trước), vùng Đông nam Á là một khối đất liền và Việt nam có vị trí trung tâm. Đầu kỷ Creta núi Fansipan ra đời và định hình vào cuối kỷ, cùng lúc với Vịnh Hạ long. Khi tiểu lục địa Ấn độ va chạm vào khối lục địa Á Âu cách nay 50-40 triệu năm với sự hình thành dãy núi Himalaya, hệ thống núi có sẵn Việt nam cũng được nâng cao thêm. Sông Mekong có thể hình thành khoảng thời gian này. Trong thời kỳ băng hà biển thoái, thềm lục địa Sunda (nay chìm dưới biển phía miền Nam Việt nam) lộ ra. Sông Hồng, sông Lô, sông Đà cũng ra đời thời kỳ này.

Thời kỳ đầu kỷ Creta, thực vật hạt trần vẫn chiếm lĩnh và thực vật có hoa hạt kín tiến chiếm ưu thắng vào cuối kỷ Creta, cách nay khoảng 66 triệu năm, với những loài tổ tiên của Sung (Ficus), Chò nước (Platanus), Mộc lan (Magnolia) xuất hiện trước tiên.

Đại Tân Sinh (gồm các kỷ Cổ cận, Tân cận, Đệ Tứ) bắt đầu khoảng 66 triệu năm trước tới hiện nay. Đây là giai đoạn tân kiến tạo mạnh mẽ dẫn tới hình dạng và cảnh quan các kiểu rừng hiện tại của lãnh thổ Việt Nam. Đầu thời kỳ này, bắt đầu có ảnh hưởng của tiểu lục địa Ấn độ trôi dạt chạm lục địa Á châu. Hoạt động địa chất, sụt lún, biến đổi khí hậu với hai pha lạnh khoảng 60-50 triệu và 37-30 triệu năm trước, xâm nhập mặn, trầm tích khoáng sản, các khối núi lớn tiếp tục được nâng cao, hình thành đồng bằng, hải đảo diễn ra mạnh trong đại này.

Kỷ Paleogen (Cổ cận haytên cũ Đệ tam sớm), cách nay 66 đến 23 triệu năm, khu vực Đông Nam Á là một dãy đất liên tục. Lục địa Ấn độ vẫn chưa chạm vào mảng Á-Âu ít ra cho đến giữa kỷ. Đây là thời kỳ toàn cầu lạnh xuống, nồng độ Oở mức 130% hiện tại, mức CO là 500 ppm. Khí hậu lạnh làm những loài thực vật nhiệt đới giảm sự phong phú, chỉ còn hiện diện quanh vùng nhiệt đới xích đạo. Những loài thực vật rụng lá vùng lạnh lan tới gần nhiệt đới, trong đó có khu vực Đông Nam Á.

Kỷ Neogen (Tân cận hay tên cũ Đệ tam muộn), cách nay 23 đến 2.6 triệu năm. Nồng độ Otrong khí quyển là 108% mức hiện nay, COkhoảng 280 ppm. Thế  Miocen (Trung tân) cách nay 23 đến 5.6 triệu năm, khí hậu lạnh xuống, mảng băng ở hai cực lớn dần và dầy thêm, để đến cuối kỷ Neogen là khởi đầu thời kỳ băng giá hiện nay của địa cầu. Thực vật rụng lá chiếm ưu thế, đồng cỏ dần thay thế rừng. Các loài cỏ đa dạng hoá, tiến hoá quang hợp chu trình C4 thay thế cho chu trình quang hợp C3 ít hữu hiệu, ở khoảng 6 đến 7 triệu năm trước. Trong thế Miocen do lục địa Ấn độ đụng vào mảng địa tầng Á-Âu từ giữa kỷ Paleogen, gây nên sự tạo sơn Himalaya và hình thành khí hậu gió mùa cho vùng Đông Nam Á.Thế Pliocen (Thượng tân) cách nay từ 5.3 đến 2.6 triệu năm trước. Nhiệt độ toàn cầu giảm sút, khô, do đó các loài thực vật nhiệt đới giảm đáng kể. Rừng lá kim, thảo nguyên che phủ phần lớn bắc bán cầu. Rừng nhiệt đới chỉ còn một đai hẹp dọc xích đạo.

Kỷ Đệ tứ, bắt đầu từ 2.6 triệu năm trước cho đến ngày nay. Trong kỷ này nồng độ Ovào khoảng 104% mức hiện nay, nồng độ COkhoảng 250 ppm.Thế Pleistocen (Canh tân) cách nay 2.6 triệu năm đến khoảng 12,000 năm trước, mức nước biển trong thời kỳ này thấp hơn hiện nay 120m. Cuối thế Pleistocen, cách nay khoảng 110,000 năm cho đến 12,000 năm, trái đất trải qua nhiều thời kỳ băng hà tiến thoái. Thời kỳ băng hà cuối cùng đạt cực đại cách nay 18,000 năm che phủ đến 30% bề mặt địa cầu và chấm dứt cách nay độ 10,000 năm.Thế Holocen (Toàn tân), từ 12,000 năm đến nay, thực vật hiển hoa và côn trùng phát triển rất mạnh, chiếm lĩnh hầu như mọi nơi trên trái đất.

Các hoạt động tạo núi, phun trào tạo thành những cao nguyên basalt, các mỏ bauxite Tây Nguyên- Daklak, Nam Trung Bộ, và vùng duyên hải. Các mỏ dầu khí vùng Côn Sơn cũng hình thành. Thời kỳ gian băng khí hậu ấm lên rừng và hệ động vật phát triển mạnh mẽ. Trong kỷ Đệ Tứ, biển tiến thoái nhiều lần, lúc biển thấp lộ nhiều cầu nối thúc đẩy sự trao đổi các loài động thực vật giữa nhiều vùng đất ĐNA, làm gia tăng sự phong phú và đa dạng sinh học đáng kể. Con người hiện diện với nền văn hoá Hoà Bình rất sớm cách nay khoảng 11,000 năm. Biển Đông và Vịnh Hạ Long định hình khi mực nước dâng cao trong khoảng 7000-4000 năm trước, thềm lục địa định hình và sự bồi đắp phù sa ở các bồn trũng khởi đầu cho sự tạo thành hai đồng bằng Sông Hồng và sông Cửu Long khoảng 4500 năm trước.

Trong đại Tân Sinh, nhóm thực vật có hoa hạt kín phát triển và phân hoá nhanh một cách đáng kinh ngạc. Vùng cao lạnh hay vĩ độ cao còn có Metasequoia, Bách tán (Araucaria), họ Kim giao (Podocarpaceae), cùng các loài cây mang chuỳ khác như Thông (conifers), bạch quả, tuế), đã có chen lẫn những loài có hoa hạt kín cổ. Rừng nhiệt đới với cây lá rộng có hoa hạt kín có lẽ đã hiện diện nơi mưa nhiều trên 600 mm/năm cùng thời với vùng Nam Hoa, vùng Sundaland Mã Lai. Các họ chính là Mộc lan (Magnoliaceae), họ Quế (Lauraceae), họ Sim (Myrtaceae) ,họ Dẻ (Fagaceae) họ Cọ ( Arecaceae), họ Hoà bản (Poaceae), các Dương xỉ họ Polypodiaceae. Các loài họ Đậu (Fabaceae) thân mộc có lẽ đến từ vùng Mã lai, và thích ứng hữu hiệu cùng với các loài bản địa.

Khoảng 26-10 triệu năm trước, (thế Oligocene) cảnh quan rừng đa dạng, tuỳ theo cao độ, châu thổ ngập úng và nền thổ nhưỡng. Rừng miền núi, rừng trên đá vôi (karst), rừng mưa nhiệt đới, á nhiệt đới, rừng ngập mặn đều hiện diện vững chắc và tiếp tục tiến hoá. Kỷ Paleogen (Cổ cận hay Đệ tam sớm), cách nay 66 đến 23 triệu năm, khu vực Đông Nam Á là một dãy đất liên tục. Lục địa Ấn độ vẫn chưa chạm vào mảng Á-Âu ít ra cho đến giữa kỷ. Đây là thời kỳ toàn cầu lạnh xuống, nồng độ Oở mức 130% hiện tại, mức CO là 500 ppm. Khí hậu lạnh làm những loài thực vật nhiệt đới giảm sự phong phú, chỉ còn hiện diện quanh vùng nhiệt đới xích đạo. Những loài thực vật rụng lá vùng lạnh lan tới gần nhiệt đới, trong đó có khu vực Đông Nam Á.Kỷ Neogen (Tân cận hay Đệ tam muộn), cách nay 23 đến 2.6 triệu năm. Nồng độ Otrong khí quyển là 108% mức hiện nay, COkhoảng 280 ppm. Thế Miocen (Trung tân) cách nay 23 đến 5.6 triệu năm, khí hậu lạnh xuống, mảng băng ở hai cực lớn dần và dầy thêm, để đến cuối kỷ Neogen là khởi đầu thời kỳ băng giá hiện nay của địa cầu. Thực vật rụng lá chiếm ưu thế, đồng cỏ dần thay thế rừng. Các loài cỏ đa dạng hoá, tiến hoá quang hợp chu trình C4 thay thế cho chu trình quang hợp C3 ít hữu hiệu, ở khoảng 6 đến 7 triệu năm trước. Trong thế Miocen do lục địa Ấn độ đụng vào mảng địa tầng Á-Âu từ giữa kỷ Paleogen, gây nên sự tạo sơn Himalaya và hình thành khí hậu gió mùa cho vùng Đông Nam Á.Thế Pliocen (Thượng tân) cách nay từ 5.3 đến 2.6 triệu năm trước. Nhiệt độ toàn cầu giảm sút, khô, do đó các loài thực vật nhiệt đới giảm đáng kể. Rừng lá kim, thảo nguyên che phủ phần lớn bắc bán cầu. Rừng nhiệt đới chỉ còn một đai hẹp dọc xích đạo.

Kỷ Đệ Tứ dù là trong thời kỳ băng hà, Việt Nam vẫn giữ khí hậu ấm, mưa nhiều và có vai trò của một trữ khu địa đàng cho thực vật phong phú rừng mưa nhiệt đới. Biển tiến biển thoái nhiều lần trong kỷ này. Thời kỳ băng hà cuối cùng, từ 126,000 đến 11,700 năm trước, biển thoái lộ ra thềm lục địa Sunda, rừng Việt Nam lấn ra vùng phía Đông và Nam mà nay là biển nông, thực vật chúng phong phú chủng loài giống như hiện nay. Thế Toàn Tân, bắt đầu từ khoảng 11,700 năm trước, khi thời kỳ băng hà cuối cùng chấm dứt, khí hậu ấm lên, sự bồi đắp phù sa hình thành châu thổ hai đồng bằng lớn là Sông Hồng và Cửu Long cùng với những đồng bằng duyên hải. Khoảng 8000 đến 4000 năm trước, rừng sác với loài Bần tiên phong và Đước chiếm cứ vùng ngập triều, giúp ổn định những vùng đất tân bồi, đưa đến thành lập những vùng nước ngọt và phèn trong nội địa. Vùng Tây nam bộ, có cao độ trung bình 2m, chỉ mới hình thành trong vòng 12,000 năm, thế Holocene (Toàn tân) do bồi tụ phù sa.

Những khám phá mới cho thấy người khôn ngoan từ Phi Cháu đến vùng Đông Nam Á khoảng 60,000 đến 40,000 năm trước, và có thể đã từng cư trú ở Việt Nam. Cách nay khoảng 10,000 năm đến 2000 năm TCN, trên đất Việt, chuyển tiếp giữa Thời đại Đồ đá cũ sang Đồ đá mới, cư dân Việt cổ đã thiết lập nền văn hoá Hoà Bình, trên vùng đá vôi từ Quảng Bình tới Thái Nguyên. Tiếp theo là nền văn hoá Bắc Sơn (Lạng Sơn) thuộc thời kỳ Đồ đá mới, thiết lập trong khoảng 5000 đến 3000 năm TCN. Nền văn hoá này chia sẻ bởi nhiều nhóm cư dân tử Indonesia qua Đông Dương đến Thái lan, được biết với tên Văn minh Nam Đảo-Nam Á.  Rồi tiếp đến là nền văn hoá Đông Sơn (Thanh Hoá) thời đại Đồ Đồng-Đồ Sắt sớm, là nền văn minh Lạc Việt thời Hùng Vương (Văn Lang) đến An Dương Vương (Âu Lạc), nền văn minh nông nghiệp lúa nước, rực rỡ trong khoảng thế kỷ VII TCN đến thế kỷ II CN, cách nay 2500-2000 năm.nổi danh với kỹ thuật luyện kim và nghệ thuật, mỹ thuật đúc Trống Đồng. Con người với hoạt động và xây dựng đã có ảnh hưởng đến cân bằng của các hệ sinh thái Rừng theo hướng tiêu cực.

Trong khoảng thời gian 1990 đến 2015, Việt Nam có nhiều cố gắng trong chính sách phục hồi rừng, trồng từng, sử dụng hợp lý tài nguyên rừng. Kết quả được đánh giá là khả quan khi nâng tỉ lệ che phủ của rừng lên 42% trên toàn quốc. Nhưng những khảo sát gần đây cho thấy, việc quản trị lâm phần có phần xuống cấp từ những năm 2020.
 
                                    
 


                           
https://www.facebook.com/groups/124948084959931
 
PHỤ TRÁCH BIÊN TẬP
 
Sáng lập & Cố vấn:

TRẦN ĐĂNG HỒNG, PhD

Ban Biên tập :

VÕ THANH NGHI
vothanhnghiag@yahoo.com.vn
NGUYỄN THANH LIÊM
liem68dvb@gmail.com


Địa chỉ liên lạc: thnlscantho.3@gmail.com


Đặc San:
Đặc san XUÂN CANH DẦN (2010)
Đặc san XUÂN TÂN MÃO (2011)
Đặc san XUÂN NHÂM THÌN (2012)
Đặc san XUÂN QUÝ TỴ (2013)
Đặc san XUÂN GIÁP NGỌ (2014)
Đặc san XUÂN ẤT MÙI (2015)
Đặc san XUÂN BÍNH THÂN (2016)
Đặc san XUÂN ĐINH DẬU (2017)

Đặc san "Lưu Bút Ngày Xanh I (2010)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh II (2011)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh III
https://www.facebook.com/groups/124948084959931/
 
https://www.facebook.com/groups/124948084959931/
 
Today, there have been 360623 visitors (668430 hits) on this page!