Rừng Đông Nam Á.
Ks Nguyễn Lương Duyên
PHẦN 5
1.5 Khu vực Tây nguyên:đây là khu vực còn nhiều rừng tự nhiên và tỷ lệ rừng giàu cao nhất nước. Các kiểu rừng chính là rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm vùng thấp <1000m; đồi, núi thấp và trung bình 700-2000m và núi cao >2000m với đa dạng sinh học rất cao tập trung ở các VQG Chư Yang Sin, Bidoup, núi Bà, Kon Ka Kinh, Chư Mom Ray, Ngọc Linh... và đặc biệt là nơi tập trung của hệ sinh thái rừng khộp rất đặc thù.
-Khối núi Ngọc Linh, cao trên 1000 m (#30): ở độ cao dưới 1000m rừng thường bị tác động mạnh.
+Kiểu rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm đồi, núi thấp và trung bình 700-2000m có các loài cây gỗ lá rộng thường xanh thường thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae) với các loài ưu thế như Dẻ đá, Sồi, Re. Độ tàn che phủ lớn 70-80%, trữ lượng cao (180-250m3/ha), tăng trưởng cao (12-14m3ha/năm).
+Kiểu rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm núi cao trên 2000m hầu như ít bị tác động, còn giữ được nhiều tính chất nguyên sinh, có nhiều loài ưu thế thuộc các họ Long não (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Trà (Theaceae), họ Nhân sâm (Araliaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Phong (Aceraceae)…Ngoài ra, trong kiểu rừng này còn gặp một số loài cây hạt trần như Thông nàng (Podocarpus imbricatus), (P. neriifolius), Thông đà lạt (Pinus dalatensis), Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Sam bông (Amentotaxus poilanei)… Độ che phủ 60-70%, trữ lượng gỗ cao (130-150m3/ha), năng suất trung bình 7-8m3/ha/năm. Từ độ cao 1800-2000m trở lên tổ hợp ưu thế là Đỗ quyên (Rhododendron spp.), Pơ mu (Forkienia hodginsii), Hồi núi (Illicium spp.), Trúc lùn. Trữ lượng thấp (70-90m3/ha).

-Núi thấp Sa thầy (#31): rừng vùng đồi, núi thấp và trung bình 700-2000m trên dãy núi thấp Sa Thầy, với các quần hợp chủ yếu như Trám (Canarium spp.), Côm (Elaeocarpus spp.), Trường mật (Paviesia annamensis), Ngát (Gironiera subaequalis), Gội (Agalia spp.) và các chi thuộc họ Long não (Lauraceae), Ràng ràng (Ormosia spp.), Thành ngạnh (Cratoxylon spp.)... Độ che phủ 60-70%. Trữ lượng 130-160m3/ha.
-Cao nguyên basalt Pleiku-Kon Hà Nừng (#32):
+Kiểu rừng ở đồi, núi thấp và trung bình 700-2000m phân bố chủ yếu ở cao nguyên Kon Hà Nừng với số loài khá phong phú:
• từ độ cao 500-800 m các loài ưu thế thuộc họ Mộc lan (Mangnoliaceae) là Giổi xanh (Michelia mediocris), Giổi nhung (Aglaia balansae)..., Họ Xoan (Meliaceae) như Gội (Aglaia spp.), họ Đào lộn hột (Anacardiaceae) như Trâm nâu (Gluta spp.), họ Đậu (Fabaceae) như Xoay (Dialium cochinchinense)...
•từ độ cao 600-2000m là sự chuyển tiếp giữa các họ phân bố vùng thấp thành các họ thích nghi vùng cao hơn như họ Long não (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae) và hiếm dần các loài họ Xoan (Meliaceae), họ Dầu (Dipterocarpaceae). Trữ lượng của kiểu rừng này cao 160-250 m3/ha.
+Kiểu rừng ở độ cao trên 2000m với thành phần chủ yếu là các loài ưa ẩm, chịu lạnh như Sồi, họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Trà (Theaceae)… cây thường lùn và cong queo, trữ lượng thấp dưới 80 m3/ha.
-Núi thấp An khê (#33): kiểu rừng vùng thấp <1000m và đồi, núi thấp và trung bình 700-2000m với các loài ưu thế sinh thái như Vên vên, Re, Gội.
-Khối núi M’Drak (#36): kiểu rừng ở đồi, núi thấp và trung bình 700-2000m nhưng phân bố chủ yếu ở độ cao trên 700m, thành phần thực vật ưu thế thuộc các họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Tử vi (Lythraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Thầu dầu (Euphoribiaceae), họ Đậu (Fabaceae)...
+Ở độ cao trên 1000m, ưu thế loài thuộc về các loài Dẻ lá tre (Quercus bambusaefolia), Cứt ngựa (A. tonkinense), Re (một số loài thuộc các chi Litsea, Cinnamomnm), Côm tầng (Elaeocarpus dubius), các loài Giổi (Michelia spp.). Càng lên cao xuất hiện kiểu rừng với sự góp mặt của các loài lá kim như Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus) và Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum).
+ Ở vùng thấp dưới 1000m với ưu thế loài thuộc các họ Xoan (Meliaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Cam (Rutaceae), họ Hoa hồng (Rosaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Dâu tằm (Moraceae)... ở đây còn có đại diện của các họ Bàng (Combretaceae) và một số loài rụng lá như Săng lẻ (Lagerstroemia tomentosa) thuộc họ Tử vi (Lythraceae), Tung (Tetrameles nudiflora) thuộc họ Tung (Datiscaceae).
Khu miền Nam, ảnh hưởng thực vật chúng hệ Mã lai-Nam dương, các cây thân gỗ lớn họ Dầu là loài ưu thế rõ rệt ở các tầng trên, và phần lớn chúng là loại cây thụ thường xanh. Các loài phổ biến có: Sao đen (Hopea odorata), Kiền kiền (Hopea pierrei), Săng đào (Hopea ferrea ), Táu mặt quỉ/Sao mềm (Hopea mollissima), Táu lá nhỏ (Vatica odorata), Chò chỉ (Parashorea stallata)… miền Nam, đặc biệt là Tây Nguyên, loài cây tiêu biểu cho họ Dầu là Dầu rái (Dipterocarpus alatus), Dầu đồng (Dipterocarpus turberculatus).
Ngoài cây họ Dầu còn có những loài cây lớn bản địa thường xanh thuộc các loài, chi: Gõ mật (Sindora siamensis), Ràng ràng (Ormosia), Muồng (Casia siamea)... thuộc họ Đậu (Fabaceae); Dẻ Trường sơn (Lithocarpus annamitorus), Kha thụ (Castanopsis), Sồi (Quercus).. thuộc họ Dẻ (Fagaceae); Trâm (Syzygium) thuộc họ Sim (Myrtaceae); Trà hoa (Camellia nervosa), Huỳnh nương (Ternstroemia), Săng sóc (Schima wallichii) thuộc họ Trà (Theaceae); Bứa (Garcinia benthami), Vấp (Mesua ferrea), Rù ri (Calophyllum balansae) thuộc họ Bứa (Clusiaceae); Sấu tía/Long cóc (Dracontomelon duperreanum) thuộc họ Xoài (Anacardiaceae); Ngâu hiern (Aglaia hiernii), Gội nước (Aphanamixis polystachya), Huỳnh đàng (Dysoxylum loureirii), Gội (Chisocheton patens) thuộc họ Xoan (Meliaceae).
Vài loài có khi mọc thành quần thụ (lán) thường thấy là Sao đen (Hopea odorata); Kiền kiền (Hopea pierrei); Chò chỉ tàu (Parashorea chinensis); Chò nâu (Dipterocarpus retusus); Dầu rái (Dipterocarpus alatus); Táu (Vatica sp.); Vên vên (Anisoptera costata). Một số loài như sau (xem thêm phần trước):
Hình 44B
-Cao nguyên Dak Nông-Dak Min (#37): rừng ở vùng thấp dưới 1000m và đồi, núi thấp và trung bình 700-2000m chỉ còn lại rất ít phân bố rãi rác trên dãy núi Chư Dju đến dãy Vọng Phu với các loài như Kiền kiền, Sao, Giổi, Dầu… Trữ lượng: 120-150m3/ha.
-Khối núi Chư Yang Sin và cao nguyên Đà lạt (#38):
+ ở độ cao dưới 800m là kiểu rừng kín thường xanh vùng thấp với các loài ưu thế như Sao đen, Dầu rái, và Dầu đỏ (D. turbinatus).
+ ở độ cao trên 800m là kiểu rừng kín thường xanh phân bố rộng rãi trong khu vực và có các loài ưu thế thuộc về họ Dẻ Fagaceae và họ Long não Lauraceae.
-Cao nguyên Di linh-Bảo lộc (#39): kiểu rừng lá rộng thường xanh ở độ cao trên 700 m với ưu thế các loài thuộc họ Dẻ (Fagaceae), ho Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Đậu (Fabaceae)…
1.6. Khu vực Đông Nam Bộ:kiểu rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm vùng thấp dưới 1000m với ưu thế các loài họ Dầu vùng thấp với đại diện là Dầu rái, Dầu song nàng, Sao, Kiền kiền, Vên vên, trữ lượng và năng suất gỗ rất cao.
-Núi thấp Bình phước-Đồng nai (#40), Gò đồi ĐNB (#41), Đồng bằng ĐNB (#42): kiểu rừng thường xanh mưa ẩm vùng thấp dưới 1000m và ưu thế họ Dầu vùng thấp với các loài đặc trưng như Dầu rái (D. alatus), Dầu song nàng (D. dyeri), Sao đen (Hopea odorata), Kiền kiền (Hopea spp.)...
-Côn đảo (#44): kiểu rừng thường xanh mưa ẩm vùng thấp dưới 1000m với các loài đặc trưng và được mang tên của đảo như Dầu côn sơn (Dipterocarpus condorensis), Bùi côn sơn (Ilex condorensis), Dọt sành côn sơn (Pavetta condorensis), Lấu côn sơn (Psychotrya condorensis)… Đặc sắc là hệ thực vật có đại diện của họ Xoan miền Bắc, họ Dầu, họ Bằng lăng miền Nam, có Đước Rhizophora mucronata, Mấm Avicenia alba, Tràm Melaleuca cajeputi.
1.7 Khu vực Tây Nam Bộ:
-Hải đảo Tây Nam Bộ Phú quốc (#47): Rừng vùng thấp Nam Bộ với ưu thế các loài họ Dầu, loài hay gặp là Sao đen, Dầu song nàng), Dầu mít (D. costata), Cám (Parinari annamensis), Trâm (Syzygium spp.), Sổ (Dillenia obovata)…
Sinh cảnh Rừng ẩm kín lá rộng thường xanh
1. Kiểu Rừngẩm kín nửa rụng lá nhiệt đới
Kiểu rừng này phân bố ở vùng Tây bắc, Tây Nguyên, miền đông Nam Bộ. Nhiệt độ trung bình hàng năm 20-25⁰C, tháng lạnh nhất trên 15⁰C, vũ lượng hàng năm 120-250 cm, nhưng có 3 tháng hạn lượng mưa dưới 5 cm, ẩm độ trung bình 85%.
Kiểu rừng này thường phân bố < 700m ở miền Bắc và <1000 m ở miền Nam.
Cấu trúc rừng gồm 3 tầng cây gỗ: tầng chính, tầng dưới tán và tầng cây bụi thưa. Tầng thảm tươi rậm rạp có các loài quyết (Pteridophyta) và cây họ Dừa (Palmae). Đặc trưng của hệ sinh thái này là số cá thể rụng lá phải có từ 25 - 75% so với tổng số, những loài này rụng lá dần dần và kéo dài trong suốt mùa khô hạn.
Điển hình là hai loài cây rụng lá: Săng lẻ (Lagerstroemia tomentosa ) và Sau sau (Liquidambar formosana). Ngoài ra còn có các loài cây thuộc họ Dầu, họ Xoan (Meliaceae), Đậu (Leguminosae), Đa tích (Datiscaceae), Dâu tằm (Moraceae), Đào lộn hột (Anacardiaceae), Bàng (Combretaceae), Long não (Lauraceae), Trám (Burseraceae), Nhãn (Sapindaceae)…Các kiểu miền gồm:
•Kiểu miền với thảm thực vật thân thuộc hệ thực vật Ấn Độ- Miến điện: Kiểu này có ở Mường Xén, Con Cuông (Nghệ An), điển hình là cây Săng lẻ (Lagerstroemia tomentosa) mọc chung với Lim xanh (Erythrophoeum fordii), Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis), Sến mật (Madhuca pasquieri). Ngoài ra còn có nhiều loài cây rụng lá khác như các loài dẻ (Quercus acutissima, Quercus serrata, Quercus griffithii), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Xoan ta (Melia azedarach), Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis). Nhiều loài cây rụng lá mọc gần như thuần loài như Săng lẻ (Lagerstroemia tomentosa) ở Nghệ An, Sau sau (Liquidamba formosana ) ở Lạng Sơn và Bắc Giang.
•Kiểu miền với hệ thực vật thân thuộc Việt Nam và Mã lai-Nam dương có nhiều loài cây rụng lá thuộc các họ: họ Dầu, họ Đậu, họ Bàng (Combretaceae), Đa tích (Datiscaceae), Trôm (Sterculiaceae), Đào lộn hột (Anacardiaceae), Xoan (Meliaceae), Nhãn (Sapindaceae), Đinh (Bignoniaceae), Du (Ulmaceae), Dâu tằm (Moraceae), Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).
•Kiểu miền với hệ thực vật thân thuộc với hai khu hệ: bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa và khu hệ di cư Ấn Độ - Myanma: kiểu này có các loài cây rụng lá thuộc các họ Xoan, Nhãn, Đậu, Xoài, Trám (Burseraceae), Ngũ trảo (Verbenaceae).
Một số loài phổ biến (xem thêm ảnh những phần trên):
Kiểu rừng kín ẩm bán rụng lá phân bố như sau:
2.1. Khu vực Tây bắc:
Thượng nguồn sông Đà (#1) và Thượng nguồn sông Mã (#2): kiểu rừng hỗn loài nửa rụng lá ở khu vực này có trên một số vùng thấp của huyện Sơn La, Điện Biên và Lai Châu, chủ yếu do sự suy kiệt và thoái hóa của lớp phủ thổ nhưỡng. Kết quả đã tạo nên các thảm thực vật ưu thế với các loài ưa sáng chịu hạn cao, thích nghi với điều kiện môi trường khắc nghiệt bằng khả năng giảm bốc hơi nước thông qua hiện tượng rụng lá, như các loài Sau sau, Bồ đề (Styrax tonkinensis), Mạy sang (Dendrocalamus sericeus), các Dẻ rụng lá (Quercus griffithii, Q. serrata, Q. acutissima), Chẹo rụng lá (Engelhardtia colebrookiana), Mạy châu bắc bộ (Carya tonkinensis), Mạy thồ lộ (Schima wallichiana).... Trữ lượng80-150 m³/ha.
2.2. Khu vực Bắc Trung Bộ:
-Mường Xén (#19): kiểu rừng nửa rụng lá được đặc trưng bởi hệ thực vật di cư từ phía tây khô nóng sang, hình thành nên kiểu rừng nhiệt đới rụng lá mùa khô với những thảm thực vật nguyên sinh hay thứ sinh, thưa cây và rụng lá về mùa khô. Hệ thực vật bao gồm chính với các loài trong họ Bằng lăng, họ Bàng, họ Ngọc lan, họ Bồ hòn, họ Dung (Symplocaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Tung (Datiscaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Ban (Hypericaceae)… và nhiều loài tre. Các loài cây
chiếm ưu thế trong thành phần thực vật là các loài trong chi Bằng lăng Lagestroemia, chi Lành ngạnh Cratoxylon, chi Hoắc quang Wendlandia, chi Thầu tấu Aporosa. Đây là những loài thích nghi cao độ với điều kiện sống khô và nóng.
2.3. Khu vực Tây nguyên
-Cao nguyên basalt Pleiku-Kon Hà Nừng (#32): kiểu rừng hỗn loài nửa rụng lá phân bố ở vùng đồi thấp trên đất có thành phần cát. Các loài ưu thế thuộc họ Dầu như Sao đen, Kiền kiền…họ Đậu như Gõ, Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus ), họ Tử vi như Bằng lăng… với trữ lượng bìnhquân khá 100-200 m3/ha.
Trên cao nguyên Pleiku thảm thực vật bị thoái hoá nhiều, kiểu rừng chủ yếu là rừng nhiệt đới ẩm rụng lá và các savan thứ sinh với ưu thế các loài Dẻ (Lithocarpus), Săng lẻ, Dầu trà beng, Cẩm liên…Năng suất 6-7m3/ha/năm.
-Núi thấp An khê (#33): kiểu rừng hỗn loài nửa rụng lá là kiểu rừng chuyển tiếp giữa rừng kín hỗn loài lá rộng thường xanh mưa ẩm vùng thấp và rừng thưa khô lá rộng rụng lá theo mùa ưu thế cây họ Dầu (rừng khộp).
-Cao nguyên basalt Buôn Ma Thuộc (#35): thảm rừng tự nhiên còn lại rất ít chủ yếu là các quần hợp Săng lẻ và Dầu trà beng.
-Khối núi Chư Yang Sin và cao nguyên Đà lạt (#38): ở độ cao dưới 800m với các loài tiêu biểu là Bằng lăng ổi (Lagestroemia calyculata) và Chiêu liêu gân đen (Terminalia nigrovenulosa).
2.4. Khu vực Đông Nam Bộ
-Núi thấp và Gò đồi ĐNB (#40 và #41): chiếm 15% diện tích, độ che phủ 0.3-0.6), tỉ lệ cây rụng lá 25-30%. Các họ ưu thế: Dầu (loài ưu thế Dầu song nàng, Chai Shorea thorelii), Tử vi (Lythraceae, với Thao lao), Trôm (Malvaceae /Sterculioideae), Bồ hòn (với chi Trường Xerospermum), Sim (với chi Trâm Syzygium) , Thị (Ebenaceae với chi Diospyros), Cà phê (Rubiaceae, với chi Gáo Nauclea), Xoài, Cỏ roi ngựa (Verbenaceae với chi Bình linh, Vitex), Bứa (Clusiaceae với chi Bứa Garcinia) và họ phụ Tre.
Vài Sinh cảnh Rừng ẩm kín nửa rụng lá:
|