Rừng ĐNA - Phần 1
RừngTự Nhiên Việt Nam
Nguyễn Lương Duyên
 
A. Sơ Lược Hình Thành Rừng qua các Thời Kỳ Địa Chất ở Đông Nam Á
   

Thực vật trên cạn xuất hiện và tạo nên các quần thể sinh thái Rừng trên thế giới có lẽ bắt đầu từ kỷ Devon, cách nay khoảng 420 đến 360 triệu năm. Trong giai đoạn này vùng Đông Nam Á (ĐNA) là những địa khối rải rác khi mảng địa chất Nam Trung hoa và Đông Dương tách rời đại lục địa Gondwana và trôi dạt lên hướng Bắc. Địa khối Tây Bắc, Kontum-Pleiku, Phong Nha-Kẻ Bàng hiện diện trong kỷ này. Các hoá thạch thu thập ở Việt Nam, Thái Lan, và Nam Trung Hoa cho thấy thực vật chiếm lĩnh đất liền là các Thạch Tùng mọc vùng ngập nước (Lycopsida, nhóm cây sinh bào tử cổ lỗ, thân không phán nhánh, lá mọc tụ trên ngọn như các loài họ Cọ Dừa hiện nay). Kỷ này còn có các thực vật cổ xưa nay đã tuyệt chủng như các Quyết lá thông (Psilophytopsida) và các loài TiềnHạt trần (Progymnospermopsida).
 
 
 
Sang kỷ Than, cách nay 360 triệu đến 300 triệu năm trước, ĐNA không phải là một vùng đất liền lạc mà gồm nhiều địa khối rời rạc có tên Sibumasu, Đông Dương, Nam Hoa, Simao, Tây Miến Điện trôi dạt trong đại dương Tethys gần xích đạo. Các địa khối này va chạm, gắn kết nhau và qua thời gian địa chất tạo thành vùng Đông Nam Á hiện nay. Khi các địa khối quy tụ đại dương cổ Tethys biến mất. Các địa khối nằm gần xích đạo là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của thực vật nhiệt đới (địa khối Hoa Nam-Đông Dương), vùng Malaysia thì có nơi chịu ảnh hưởng băng hà cuối kỷ Thán, ngay cả vài thực vật mảng Âu-Mỹ, và mảng siêu đại lục Gondwana cũng có mặt. Khu vực nào khí hậu nóng ẩm ngập nước thì tạo thành những vỉa than, một tính chất đặc trưng của kỷ này.
Hoá thạch vùng Mã Lai - Thái Lan cho thấy giai đoạn này các Thạch tùng khổng lồ (lycophyte) như Lepidodendron, Lepidodendrpsis  rất phong phú. Chúng là các loài chính tạo nên các vỉa than. Bên cạnh thạch tùng còn có các loài nhóm Đuôi ngựa (Sphenopsida), các Dương Xỉ (Pteropsida như Neuropteris, Rhodea, Adiantites, Cycjopteris), và có thể có các tiền thân của nhóm cây có hạt nở rộ trong kỷ Permi (Gigantopterds).




 
   
Sangkỷ Permi, cách nay 300 đến 250 triệu năm, khu vực ĐNA là một vùng biến động phức tạp với nhiều địa khối lớn nhỏ tách khỏi siêu lục địa Gondwana, trôi dạt về hướng Bắc qua đại dương Tethys Cổ, va chạm nhau, kết thành khối liền lạc trong kỷ Tam Điệp Trias, tạo thành nền móng cho vùng Đông Nam Á saunày. Trong kỷ Permi có vài địa khối chính trong vùng như Địa khối lớn Đông Dương- Hoa Nam (Việt Nam, Lào, Campuchia) cùng địa khối Simao, nằm ngang xích đạo, là chỗ ngụ của hệ thực vật và động vật Cathay (hệ thưc vật nhiệt đới cổ kỷ Than và Permi vùng Đông Á châu, như Lobatannularia, Gigantopteris, và Lãnh Sam Bạc Cathaya argyrophylla còn tồn tại đến nay). Vùng nước chung quanh cạn và ấm đã tạo điều kiện cho các trầm tích đá vôi trong vùng từ các sinh vật vỏ vôi của biển.Các trầm tích đá vôi này đã tạo nên những hang động kỳ vĩ karst ở Việt Nam và Thái Lan. Các trầm tích nội địa thành các vỉa than.Địa khối Sibumasu (Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Tây Tạng) khởi thuỷ từ mạn Tây Bắc của Gondwana trôi dạt nhanh về hướng Bắc. Các địa khối Simao, Tây Miến điện, Borneo-Semitau cũng trôi dạt và kết tụ với nhau.
Sự hình thành siêu lục địa Pangaea, cùng siêu lục địa Gondwana, kết nối hầu như toàn thể đất liền trên địa cầu thành một khối duy nhất xảy ra trong khoảng thời gian 330 đến 175 triệu năm trước.
Hệ thực vật vùng Đông Nam Á rất đa dạng. Có những khu vực gần xích đạo, nóng, ẩm, ngập, rừng chính yếu là những Thạch tùng (lycophytes, như Sigillaria) khổng lồ, các Dương xỉ mang hạt Glossopteris, Ráng các loại. Chúng là nguồn gốc của các vỉa than ở Hoa Nam, Việt Nam, Lào, Thái, Campuchia. Vùng núi, khô, lạnh rừng chiếm lĩnh bởi những loài thực vật mang chuỳ, Tuế, Ginkgo. Ở vùng ven đại dương Tethys thì nhóm thực vật Đuôi ngựa (như Tomiostrobus) chiếm lĩnh.
Cuối kỷ Permi một biến cố lớn là vụ Đại Tuyệt Chủng Permi-Trias xảy ra cách nay 252 triệu năm, tiêu diệt 90% các loài sinh vật biển và 70% các loài trên đất liền. Nguyên nhân có lẽ là do hoạt động núi lửa đại quy mô, thải khí nhà kính làm nhiệt độ tăng cao hơn 40C, acid hoá đại dương, mất ozone nên có nhiều tia cực tím nguy hiểm xuống đến mặt đất, lửa rừng khắp nơi, sinh cảnh thành sa mạc, thực vật bị tổn hại trầm trọng.

 
 
 
 
Kỷ Tam Điệp, Trias, kéo dài trong thời gian từ 250 triệu đến 200 triệu năm trước. Đầu kỷ hậu quả của trận Đại Tuyệt Chủng cuối kỷ Permi vẫn còn ảnh hưởng, đất liền là sa mạc hoang vắng, môi trường khắc nghiệt. Sinh vật hồi phục dần trong khoảng đầu kỷ. Vùng Đông Nam Á vẫn là một vùng nhiều biến động, các địa khối lớn vẫn tiếp tục trôi dạt, va chạm và đính kết nhau. Các va chạm đã tạo ra nhiều biến dạng, nếp gấp, nhô cao của các tầng địa chất khoảng giữa tới cuối kỷ, xoá sổ đại dương Tethys Cổ gần cuối kỷ. Ba địa khối Sibumasu (Thái Lan, Đông Miến, Mã Lai, Sumatra), Hoa Nam, và Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia, Đông Thái, Mã Lai) nối liền nhau tạo tiền thân cho khu vực rộng lớn Sundaland về sau. Khu vực có nhiều trầm tích loài nhuyến thể hai mảnh tại Hoa Nam, Thái Lan, Việt Nam; hoạt động phún xuất cũng mạnh mẽ ở Thái, Hoa Nam, Mã Lai và khu vực Sông Đà sông Mã. Biển nông trong kỷ Trias.

 

         
 
Khí hậu toàn cầu nóng và khô, các thực vật hạt trần phục hồi sau biến cố tuyệt chủng, nhưng vùng ĐNA ấm dịu hơn. Thực vật vùng ĐNA sau biến cố đại tuyệt chủng phục hồi phong phú, đa dạng, chuyển từ rừng thạch tùng/dương xỉ mang hạt (thực vật chính tạo các vỉa than) chỉ còn hiện diện vùng ẩm, ngập úng sang rừng cây mang chuỳ cổ sơ rất cao (tổ tiên của các thực vật lá kim tùng bách ngày nay), Tuế, Bạch quả, Ráng Đuôi ngựa cao thẳng tắp (Neocslamites), các loài Dương xỉ của hệ thực vật rừng nhiệt đới gió mùa vào khoảng giữa kỷ Tam Điệp. Hệ thực vậy ĐNA khác biệt hẳn với các rừng ở đại lục địa Gondwana ở phía Nam. Điều kiện này tạo thuận lợi như cái nôi cho sự xuất hiện côn trùng và các dạng khủng long đầu tiên, từ đó chúng phân tán khắp nơi.
Kỷ Jura, cũng thường được biết dưới tên Thời Đại của Khủng Long, kéo dài từ 200 đến 145 triệu năm trước. Siêu lục địa Pangea vỡ thành hai lục địa lớn là Laurasia ở phía Bắc và Gondwana ở phía Nam, cùng với sự hình thành đại dương mới. Bên cạnh khủng long tiến hoá có dạng khổng lồ, các loài bò sát, côn trùng cũng trở nên đa dạng, và xuất hiện thủy tổ của chim. Khí hậu toàn cầu nóng, ẩm, mưa nhiều. Không có băng vĩnh cửu ở hai cực. Hệ sinh thái toàn cầu phong phú với các cây mang chuỳ (conifers), tuế, bạch quả, dương xỉ ngự trị và các hoá thạch từ chúng chính là nguồn gốc của những túi dầu hoả.
Vùng ĐNA là một nơi nhiều biến động, các mảnh vỡ tách từ siêu đại lục Gondwana, các địa khối Borneo, Java, Sulawesi trôi dạt lên phía Bắc tạo thêm nền móng cho lục địa Sundaland trong những kỷ tới, là nền móng của vùng ĐNA hiện nay. Biển nông đan kẽ biển sâu, đại dương Tethys mới hình thành, ngăn cách khu vực châu Á và Ấn độ. Nửa giai đoạn đầu kỷ Jura, siêu đại lục Pangaea cũng rạn nứt, và hai địa khối Thái-Miến và Đông Dương kết liền, tạo cho vùng này thành địa bàn biến động địa chất với một vòng cung núi lửa hình thành.
Môi trường sinh thái ĐNA rất đa dạng, vì khí hậu ôn hoà thuận lợi nếu so với các nơi khác. Thực vật tầng chính của rừng phong phú với các hạt trần như (nhóm cây mang chùy như Keteleria (Bách tán), các loài họ Cheirolepidiacea nay tuyệt chủng), các loài Tuế (Cycas), Bạch quả (Gynkgo), và các Ráng mang hạt Bennettitales đã tuyệt chủng; tầng rừng dưới tán đủ loại dương xỉ Schizeales chiếm ưu thế. ĐNA được coi là nơi sinh sống phát triển của những dạng khủng long đầu tiên trước khi chúng phân tán khắp mọi nơi.

 
 
Tiếp sau là kỷ Phấn, Creta, kéo dài từ 145 đến 66 triệu năm trước, kỷ chót và dài nhất Đại Trung Sinh, các lục địa bắt đầu rạn nứt và trôi dạt nhanh. Siêu lục địa Pangaea tách đôi, Laurasia phía Bắc và Gondwana phía Nam. Từ đó Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Phi bắt đầu tách rời, hình thành Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương (Tiểu lục địa Ấn Độ vẫn còn ở Nam Bán Cầu, vị trí Madaagascar hiện nay). Lục địa Úc, khối Tân Tây Lan (châu Zealandia với 94% nằm dưới mực biển), châu Nam Cực rạn nứt và  rời nhau. Khí hậu nói chung ấm áp, mức nước biển cao hơn hiện nay khoảng 180 m, và có nhiều biển nội địa.
 
 
Khủng long chiếm lĩnh và nhiều sinh vật mới thuỷ tổ của những loài có vú, chim, cá hiện nay phát sinh, tiến hoá. Rừng lấn tới hai vùng cực. Thực vật rừng có dương xỉ đủ dạng nhiều nhất là các Gleichenia tầng dưới tán, tuế, bạch quả, nhóm cây mang chuỳ thân lớn cao thẳng (thông, matasequoia), đuôi ngựa (Equisetum) ngự trị đầu kỷ dần dần suy thoái, nhường chỗ cho kiểu rừng mới khi thực vật hiển hoa hạt kín bắt đầu xuất hiện giữa kỷ, nhanh chóng tiến hoá đa dạng thành nhóm thực vật chủ yếu vào cuối kỷ, chiếm đến 80% tổng số lượng với rừng đầm lầy. Vùng rừng ở cực thực vật rụng lá theo mùa thích ứng với quang kỳ. Các nhóm có hoa hạt kín hai lá mầm khởi thuỷ gồm các loài thuỷ sinh cổ Archaefructus, mộc lan, bạch dương, liễu, sồi dẻ, cử (Fagaceae), sung, và một ít nhóm thân cỏ một lá mầm. Nhóm thân cỏ dù xuất hiện muộn nhất nhưng nhờ khả năng tái sinh mạnh mẽ nhanh chóng dù bị thú ăn gần hết thân lá. Thực vật có hoa hạt kín phát triển, đi đôi với sự phát triển mạnh của ong bướm làm thay đổi sâu sắc hệ sinh thái toàn cầu do tạo nguồn thức ăn mới là trái hạt. Kỷ Phấn Trắng chấm dứt với sự kiện Đại Tuyệt Chủng C-P, do một thiên thạch khổng lồ ước tính kích thước 10 km va chạm vào vùng này là Yucatan ở Mexico, tiêu diệt toàn bộ các khủng long không cánh và các bò sát biển.
Khu vực ĐNA trong kỷ Phấn sôi động với hai mảng địa khối lớn, Đông Dương và Thái-Miến (Shan-Thai, Sibumasu) tiếp tục trôi dạt kết liền nhau. Vùng ĐNAnằm trên vùng mảng trồicủa khu vực sụt lún và được nâng cao. Những dãy núi tạo thành lá chắn mưa, đưa đến vùng ven biển ẩm và nội địa khô hơn. Đại dương Tethys cổ bị đóng vào cuối kỷ và tiền thân của Biển Nam Hải (Biển Đông) hình thành. Khí hậu mát, ẩm ven biển (ảnh hưởng của Thái Bình Dương), khô hơn sâu trong nội địa. Các hệ sinh thái rừng đa dạng. Nơi đây còn là khu vực phát sinh của bò sát lớn, rùa, các dạng khủng long có cánh và không cánh đầu tiên. Khu vực Sumatra, Đông Java, Maybalihat, Borneo, Sulawesi tách khỏi châu Úc-Gondwana trôi dạt lên phía Bắc, tạo nhiều dãy núi và vòng cung núi lửa của khu vực. Khu vực lớn hình thành cốt lõi của khu vực ĐNA liền lạc có tên Sundaland gồm bán đảo Mã lai, Borneo, Sumatra, khối Đông Dương, khối Thái-Miến nối với Eurasia. Tiểu lục địa Ấn độ đang trôi dạt về hướng Bắc, nhưng còn cách xa, đến Đại Tân Sinh mới va chạm với Á Châu. Tuy nhiên sự xích lai gần nhau cũng đã tạo khởi đầu cho sự nâng cao vùng Hi mã lạp sơn thành khối núi cao nhất địa cầu về sau.



Rừng ĐNA còn là một phần của hệ rừng Gondwana và Laurasia, bắt đầu chuyển từ những loài hạt trần ở đầu kỷ (loài mang chuỳnhư Cheirolepidaceae, Araucaria, tuế, và dương xỉ) sang hiển hoa hạt kín với sự xuất hiện của những cây họ Dầu Dipterocarpaceae, khoảng giữa kỷ (100 triệu năm trước) dần dà định hình cho cấu trúc một hệ sinh thái mới. Họ Dầu gốc ở Châu Phi, lan đến ĐNA qua ngã tiểu lục địa Ấn độ ban sơ và tăng mức lan toả mạnh mẽ sau này khi mảng Ấn độ va chạm và kết liền với châu Á. Họ Dầu thật sự chiếm lĩnh là một họ chính cùng nhiều loài hạt kín cổ, các loài phụ sinh, của rừng mưa nhiệt đới ĐNA, tăng trưởng, thích ứng hữu hiệu và phân hóa phong phú trong điều kiện khí hậu gió mùa nóng, ẩm, mưa nhiều, nồng độ CO rất cao trong khí quyển vào cuối kỷ Phấn trắng. Rừng ĐNA là cái nôi của hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới  Á châu.
Đại Tân Sinh (Cenozoic Era) kéo dài từ 66 triệu năm trước đến hiện tại. Đây là thời đại của thú có vú, chim, côn trùng, và thực vật có hoa hạt kín. Đại này khởi đầu sau biến cố tuyệt chủng hàng loạt K-Pg được cho là do một thiên thạch khổng lồ va chạm vào trái đất tạo miệng hố Chicxulub ở Mexico. Biến cố này tiêu diệt toàn bộ khủng long không cánh,tạo điều kiên để thú có vú nhỏ, chim, bò sát, lưỡng thể phát triển và đa dạng hoá. Các mảng kiến tạo tiếp tục di chuyển và hình thành các lục địa, đại dương ngày nay. Đại này có 3 kỷ:
   
Kỷ Cổ Cận (Paleogene) kéo dài từ 66 đến 23 triệu năm trước,là kỷ đầu tiên của Đại Tân Sinh. Hiệu ứng nhà kính do hoạt động phun trào tạo nên khí hậu nóng ẩm toàn cầu, rừng mưa nhiệt đới lan tới vĩ độ cao.Từ giai đoạn sớm khi tiểu lục địa Ấn sửa soạn chạm đại lục Eurasia khoảng 55 triệu năm trước, vùng cao nguyên Tây tạng và dãy Himalaya cũng bắt đầu định hình, tạo khí hậu gió mùa, vùng đất nhô cao tạo rào cản mưa, khiến vùng ven biển ẩm và nội địa khô hạn với dạng rừng chịu hạn. Đại dương Tethys khép lại, làm thay đổi dòng hải lưu và khí hậu. Khủng long vẫn hiện diên trong thời kỳ đầu, nhưng thú có vú phân hoá (thú có móng ăn cỏ, gậm nhấm, tê giác, thú ăn thịt, cá voi, các loài linh trưởng) bắt đầu phát triển  khoảng gần cuối kỷ khi nhiệt độ dịu hơn







 Khu vực ĐNA (Sundaland) có chuyển đổi quan trọng với các hoạt động địa chất dồn dập xáo trộn, các mảng  kết đính, chuồi-nâng lẫn nhau tạo nhiều vùng đất mới rộng lớn liền lạc. Đầu kỷ vùng Sumatra Java còn nằm dưới mực nước biển. Khoảng 45 triệu năm trước sự chuồi-nâng cùa hai mảng địa chất tái tục đưa đến  va chạm, kết nối các mảng vỡtừ châu Úc với Java, Borneo tạo nên vòng cung núi lửa và chuỗi đảo Indonesia.
 
 
Rừng ĐNA hình thành khoảng đầu kỷ là rừng ẩm á nhiệt đới cổ với họ Cọ, họ Nguyệt quế… của hệ thực vật Gondwana. Nói chung rừng phong phú chủng loài, thích ứng, tăng trưởng hữu hiệu tạo nền tảng cho hệ thực vật hiện tại. Đến khi xảy ra sự va chạm của tiểu lục địa Ấn với khối Á đưa đến sự nâng cao Tây tạng và hình thành dãy Himalaya thì có thêm ảnh hưởng quan trọng trong khí hậu có sự phân mùa rõ rệt, các hoạt động phún xuất, và sự tiếp nhận thực vật đến từ Ấn Độ qua ngã tư Miến Điện. Rừng chuyển dần qua rừng ẩm thường xanh nhiệt đới thành một khu vực tiến hoá, đa dạng hoá vô cùng phong phú về chủng loại. Cuối kỷ nhiệt độ giảm, trảng cỏ bắt đầu lan rộng nhanh chóng.
Nhóm thực vật chiếm ưu thế kỷ này ở vĩ độ thấp họ Cọ rừng ngập nước ngọt hay lợ chịu ảnh hưởng thuỷ triều, rừng sác. Họ Dầu mọc đến vùng Hoa Nam vào giữa kỷ. Họ Dẻ Sồi, như Castanopsis, có lẽ đến từ đại lục Gondwana phía Nam. Vùng khô hạn theo mùa có các loài lá rộng rụng lá theo mùa, như một số loài họ Dầu. Bên cạnh cũng xuất hiện nhiều loài chịu nóng, chịu hạn mọc xen trong rừng ẩm.
 
Tiếp nối là kỷ Tân Cận (Neogen) kéo dài từ 23 đến 2.6 triệu năm trước.  Hoạt động trôi dạt va chạm mạnh làm lộ ra nhiều vùng đất mới, đặc biệt khu vực ĐNA, rặng Himalaya nâng cao nhanh, dãy Alps, Pyrenees, eo biển Panama hình thành, thay đổi hải lưu của TháiBình Dương và Đại Tây Dương, ảnh hưởng khí hậu toàn cầu và sự di cư của các loài.  Sự phong hoá đá là một kho trữ carbon do cần CO, làm khí hậu toàn cầu trở nên lạnh và khô, dẫn tới thời kỳ băng hà trong kỷ Đệ Tứ tiếp sau. Cuối kỷ lạnh nhiều, băng dầy lan rộng 2 cực, mực nước biển giảm. Rừng giảm diện tích, đồng cỏ lan rộng do lượng CO giảm, các loài quang hợp C4 ở họ Cỏ Lúa nhiều thuận lợi,dẫn đến thú ăn cỏ phát triển phong phú. Các loài thú có vú, chim tiến hoá và phân hoá có dạng như ngày nay (như ngựa, hươu, bò rừng, tê giác, khổng tượng, họ Mèo dữ, có vú biển cá voi…).  Các loài hạt trần phân hoá mạnh, rừng rụng lá xuất hiện ở nhiệt đới,họ Cúc xuất hiện và phát triển đa dạng. Các loài Khuynh Diệp (Bạch Đàn) đặc hữu châu Úc phân hoá và phát triển phong phú. Trong biển, Tảo Bẹ nâu (kelp) khổng lồ phát triển thành “rừng dưới nước” là môi trường thuận lợi cho các loài thuỷ sinh sinh sôi.


Tổ tiên loài người xuất hiện ở Phi Châu khoảng 1/3 cuối kỷ.
 
Vùng địa chất ĐNA, hoạt động mảng mạnh, dư âm va chạm Ấn-Á, các va chạm địa phương, và sự trôi dạt của mảng địa tầng Thái Bình Dương, va chạm Úc-Á, nâng cao các dãy núi lớn, hình thành chuỗi đảo Indonesia- New Guine. Sự xói mòn, phong hoá đá ophiolite lộ ra từ đại dương làm nồng độ CO giảm đáng kể, đưa tới nhiệt độ giảm mạnh, biển thoái, lộ vùng Sundaland (bao gồm ĐNA hiện nay) rộng lớn. Khoảng 5 triệu năm trước hoạt động địa chất đẩy đáy biển Java-Sumatra lên cao, làm đổi dòng chảy từ Thái Bình Dương vào Ấn Độ Dương, cộng với sự thu hút khí CO trong quá trình phong hoá đá lộ, khiến vùng ĐNA có thể là nơi phát khởi thời kỳ băng hà toàn cầu. Vùng có rừng ở Sundaland chính yếu là rừng mưa nhiệt đới phong phú chịu ảnh hưởng gió mùa với họ Dầu chiếm lĩnh vẫn tồn tại như loài chủ yếu đến ngày nay (dù trải qua thời kỳ băng hà sau này), bên cạnh là họ Cọ, các dương xỉ, các loài cây thường xanh khác ở vùng cao độ lớn. Giữa kỷ việc trao đổi các loài giữa lục địa Ấn và ĐNA tăng rất mạnh. Sắp cuối kỷ khí hậu trở lạnh, báo hiệu thời kỳ băng hà, mực nước biển giảm sút lộ ra cầu nối lớn, rừng mưa nhiệt đới chỉ tập trung vùng Borneo, rải rác ở Sundaland, và vẫn là một khu vực phát triển đa dạng sinh học độc đáo. Borneo và Đông dương vẫn là cái nôi cho sự đa dạng sinh học và là trú khu cho nhiều loài trước biến đổi khí hậu. Khí hậu gió mùa và khô hạn dẫn đến rừng rụng lá mùa khô, rừng thưa và trảng cỏ thay thế rừng rậm thường xanh ở nhiều nơi.

Rừng ĐNA trong kỷ này định hình, đa dạng hoá, trao đổi loài, theo ảnh hưởng của sự nâng cao của mảng địa tầng, theo sự nhô cao của rặng Himalaya, theo các thời kỳ tiến thoái của biển, theo khí hậu lạnh xuống toàn cầu, biến chuyển từ rừng mưa nhiệt đới ấm ẩm sang các dạng rừng khô theo mùa và rừng á nhiệt đới đan xen.
 
 

 
 
Kỷ Tân cận sớm khí hậu nóng ẩm, mực nước biển cao, rừng mưa nhiệt đới hầu như có mặt khắp nơi, với các loài họ Dầu (Diptericarpaceae) và Xoan (Meliaceae) chiếm lĩnh, xen lẫn với các cây mang chuỳ (conifers).Các loài họ Đậu (Fabaceae) thân gỗ như Lim (Peltophorum), Gõ (Sindora) cũng có gốc vùng ĐNA, phát tán xuống phía Nam đến Úc. Từ giai đoạn này họ Dầu thích ứng mạnh mẽ, trở nên họ cây thu chính yếu của rừng ĐNA đến tận nay. Các loài cây chịu mặn của rừng sác, nhiều phần cũng có gốc vùng này từ cuối kỷ Phấn qua kỷ Tân cận sớm quanh biển Tethys, sau đó trôi nổi phát tán khắp nơi.Từ giữa đến cuối kỷ, dãy núi Himalaya tiếp tục nhô cao, thay đổi hướng lưu thông không khí, tạo hiệu ứng màn chắn mưa, thay đổi ẩm độ không khí. Khí hậu toàn cầu lạnh khô, băng hà lan rộng Bắc bán cầu, rừng mưa thu hẹp, trảng cỏ, trảng cỏ có cây, rừng thưa rụng lá theo mùa lan rộng. Bên cạnh họ Dầu, họ Đậu, hoá thạch thời kỳ này cho thấy còn có các họ Mộc lan (Magnoliaceae), Duyên mộc (Betulaceae), Dẻ sồi (Fagaceae), Du (Ulmaceae), Bồ hòn (Sapindaceae), Óc chó (Juglandaceae), Trà (Theaceae), Sim (Myrtaceae), các loài hạt trần; và nhiều loài thuỷ sinh nơi ngập. Vào cuối kỷ đòng cỏ và trảng cây thấp mở rộng, tạo thuận lợi cho nhóm thú có móng như ngựa, bò phát triển.

 
https://www.facebook.com/groups/124948084959931
 
PHỤ TRÁCH BIÊN TẬP
 
Sáng lập & Cố vấn:

TRẦN ĐĂNG HỒNG, PhD

Ban Biên tập :

VÕ THANH NGHI
vothanhnghiag@yahoo.com.vn
NGUYỄN THANH LIÊM
liem68dvb@gmail.com


Địa chỉ liên lạc: thnlscantho.3@gmail.com


Đặc San:
Đặc san XUÂN CANH DẦN (2010)
Đặc san XUÂN TÂN MÃO (2011)
Đặc san XUÂN NHÂM THÌN (2012)
Đặc san XUÂN QUÝ TỴ (2013)
Đặc san XUÂN GIÁP NGỌ (2014)
Đặc san XUÂN ẤT MÙI (2015)
Đặc san XUÂN BÍNH THÂN (2016)
Đặc san XUÂN ĐINH DẬU (2017)

Đặc san "Lưu Bút Ngày Xanh I (2010)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh II (2011)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh III
https://www.facebook.com/groups/124948084959931/
 
https://www.facebook.com/groups/124948084959931/
 
Today, there have been 360623 visitors (668429 hits) on this page!