Rừng ĐNA. Phần 7

 
RỪNG ĐÔNG  NAM Á
KS Nguyễn Lương Duyên



PHẦN 7 Khu vực Tây Nam bộ

-Đồng bằng Nam bộ (#45): rừng trên các núi đá vôi Kiên giang, gồm 21 hòn nằm rải rác ven biển ngập nước Hà tiên- Kiên lương. Rừng chịu tác động khai thác, tăng trưởng chậm. Theo khảo sát của Viện Sinh học Nhiệt đới, rừng ở cao độ 60-205 m, các loài sau đây có số lượng ưu thế theo thứ tự: Ficus rumphii, F. superba, Drypetes poilannei, Streblus iligifolia, Diospyros crumenata, D. rubra, Didimocarpus longan…Cây nhỏ, chỉ có khoảng 20% số cây có đường kính trong khoảng 10-40 cm, 15% số cây cao từ 5-10 m như Polyalthia simiarin, Semecarpus cochinchinensis, Terminalia triptera, Ficus rumphii…Rừng còn có các loài dây leo, lan, và dương xỉ.
 


Rừng sườn núi, có các loài Ficus tjakeka, Diospyros crumenata, Ficus rumphii, Diospyros rubra…với chỉ 10% số cây có đường kính >10 cm.


 3.4. Vài Sinh cảnh rừng trên núi đá vôi








 
 
      4. Kiểu Rừng Lá Kim
 
Kiểu rừng lá kim có hai loại :
 
I.Hệ sinh thái rừng lá kim á nhiệt đới núi thấp chính yếu có ở vùng núi Sơn La, Nghệ An, Hà Giang, Đà Lạt (Lâm Đồng). Phân bố rừng lá kim á nhiệt đới theo độ cao: Ở miền Nam, phân bố thông nhựa (Pinus merkusii) ở độ cao từ 600-1.000 m. Phân bố thông ba lá (Pinus kesiya ) ở độ cao trên 1.000 m. Ở miền Bắc, thông nhựa phân bố xuống vùng thấp gần biển như Nghệ An, Quảng Ninh. Thông ba lá xuất hiện ở” Hoàng Su Phì ( Hà Giang ) độ cao khoảng 1000m.
 
ii.Hệ sinh thái rừng lá kim ôn đới núi cao trung bình phân bố ở Sa Pa (Lào Cai), Lai Châu, Hà Giang, Tây Côn Lĩnh (CaoBằng), Chư Yang Sin(Nam Trung Bộ), Lâm Đồng. Phân bố rừng lá kim ôn đới theo cao độ: ở miền Bắc trên 1.600 m và ở miền Nam trên 1.800 m.
 
Khí hậu á nhiệt đới núi thấp còn chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa. Ở miền Bắc từ 700 - 1.600 m và ở miền Nam từ 1.000 - 1.800 m. Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 15-20C. Lượng mưa trung bình hàng năm: 600 - 1.200 mm. Khí hậu ôn đới núi cao trung bình, ở miền bắc từ 1.600 - 2.400 m và ở miền nam từ 1.800 - 2.600m.
 
                            
 
                                 4.1. Hệ sinh thái rừng lá kim á nhiệt đới
 
 
Cấu trúc:
 
         •Ở miền Nam, rừng lá kim có 3 tầng: Tầng cây gỗ có thông nhựa hoặc thông ba lá, có nơi mọc lẫn với dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius). Tầng cây bụi, chủ yếu là các cây thuộc họ Dẻ (Fagaceae) hoặc họ Đỗ quyên (Ericaceae). Tầng thảm tươi là các cây thuộc họ Hoà bản (Poaceae), họ Cúc (Asteraceae)…
 
         •Ở miền Bắc, cấu trúc rừng ở Mộc Châu ( Sơn La ) có tầng vượt tán là loài du sam (Keteleeria davidiana). Tầng cây gỗ là loài thông nhựa (Pinus merkusii). Có hiện diện Tầng cây bụi và Tầng cỏ.
 
Chi Thông (Pinus) ở Việt nam đến từ 2 nguồn:
 
         •Với hệ thực vật Ấn Độ - Miến điện:
 
                -Tại Quảng Ninh, tầng trên là thông nhựa thuần loài. Chỉ ở thung lũng, chân đồi đất ẩm thì có các loài cây lá rộng mọc xen vào như lim xanh (Erythrophoeum fordii), dẻ gai (Castanopsis tribuloides), re (Cinnamomun sp). Tầng cây bụi gồm có chua nem (Vaccinium chevalierri), hoắc quang (Wendlandtis glabrata), bồ câu vẽ (Breynia fructicosa ), tóc rối (Helicteres angustifolia), dâu (Myrica sapida)…Tầng thảm tươi gồm các loài cỏ Rottboelia excelsa, cỏ mỡ (Ischaemum aristatum), cỏ hôi (Cymbopogon conertiflorus), cỏ lông mi (Eremochloa ciliaris), cỏ mỡ (Ichaemum aristatum), cỏ guột (Dicranoteris linearis) v.v
 
                    - Tại miền Nam, rừng thông nhựa tự nhiên đã được Rollet, Maurand và Schmid nghiên cứu. Tầng trên là thông nhựa thuần loài, có nơi mọc xen lẫn với dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius) hoặc xen lẫn với dẻ đá (Lithocarpus harmandii), giổi bà (Michelia bailonii)…Tầng cây bụi thấp thường có loài chua nem (Vaccinium chevalierri) và vối thuốc (Schima crenata). Tầng thảm tươi gồm có cỏ guột (Dicranopteris linearis), quyết (Nephrolepis hirsuta).
 
            •Với hệ thực vật Himalaya - Vân Nam - Quí Châu:
 
                      -Rừng thông ba lá (Pinus kesiya) tự nhiên. Loài ưu thế này phân bố nhiều trên các cao nguyên ở Lâm Đồng và Kontum, ở độ cao 1000-1800m Ở miền bắc, thông ba lá phân bố ở Hoàng Su Phì (Hà Giang).
 
Thông ba lá Lâm đồng hình thành nên những quần thể rừng lá kim thuần loài, nhưng có thể mọc xen lẫn với các loài dẻ như Quercus helferiana, Lithocarpus dealbata, Lithocarpus pynostachya…và các loài trong họ Đỗ quyên (Ericacea ). Tầng thảm tươi gồm có các loài trong họ Hoà thảo (Poaceae) và các loài dương xỉ như Dicranopteris linearis, Brainia ínignis
                      -Rừng với loài ưu thế Du sam + Dẻ rụng lá, có ở cao nguyên Mộc Châu (Sơn La), Thuận Châu (Lai Châu). Du sam (Keteleria davidiana) chiếm ưu thế tầng trên. Tầng dưới gồm các loài dẻ rụng lá như Quercus griffthii, Quercus serrata, Quercus acutissima…và các loài cây trong họ Re (Lauraceae). Tầng cây bụi thưa gồm có các loài trong họ Cà phê, họ Thầu dầu, họ Đơn nem (Myrsinaceae)… Tầng thảm tươi gồm có nhiều loài cây trong họ Hoà bản (Poaceae).
 
 

 
 
                   4.2. Hệ sinh thái rừng lá kim ôn đới núi cao trung bình
 
•Trong vành đai ôn đới núi cao ở phía Nam, rừng cây lá kim mọc thuần loài như pơ mu (Fokienia hodginsii), sa mu (Cunninghamia lanceolata), thông nàng (Podocarpus imbricatus). Mọc xen với pơ mu còn có thông lá dẹp (Ducampopimus krempfii), thông năm lá Đà lạt (Pinus dalatnensis).
 
•Ở vành đai ôn đới núi cao thuộc dãy núi Phan Xi Păng trên độ cao 2.400 - 2.900 m còn có thiết sam (Tsuga yunnanensis ), ở độ cao trên 2,600 m có (Abies pindrow )… Ngoài ra, thuộc hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa còn có rừng với loài ưu thế tô hạp (Altingia takhtajanii), được phát hiện ở Mường Phăng, ở độ cao 1335 m. Cấu trúc rừng tô hạp:
 
        -Tầng vượt tán cao đến 35 m. Tô hạp chiếm vị trí ưu thế ở tầng này, thân thẳng, đường kính thân cây đến 80 cm, không có bạnh vè như những loài cây rừng nhiệt đới. Tô hạp mọc thuần loài theo đám, tán kín. Trữ lượng rừng trên 400 m3/ha. Ngoài ra còn mọc hỗn loài với Actinodaphne sinensis, Phoebe sp, Litse abaviensis… thuộc họ Re (Lauraceae), và dẻ gai (Castanopsis hickelii).
 
         -Tầng chính, cao từ 10 - 20 m bao gồm một số loài cây thuộc họ Re, họ Bồ hòn, họ Myrristicaceae . Có rất ít tái sinh của loài cây tô hạp. Tái sinh phần lớn là những loài cây thuộc họ Re và họ Du (Ulmaceae).
 
          -Tầng cây bụi gồm một số loài cây Blastus sp, cau rừng (Pinanga baviensis ), loài Lasianthus sp, dương xỉ thân gỗ (Gymnosphoera podophylla ), sặt (Arundinaria sp).
          -Tầng thảm cỏ có quyển bá (Selaginella), dương xỉ, lông cu li (Cibotium barometz), một số loài cây trong họ Gừng (Zingiberaceae).
 
          -Các thực vật ngoại tầng, đặc biệt thực vật phụ sinh có rất ít.
 

 
                4.3. Các phân vùng sinh thái có kiểu rừng lá kim tự nhiên
 
Khu vực Tây Bắc
 
Cao nguyên Sơn la Mộc châu (#3): Kiểu rừng lá kim, hỗn loài lá rộng lá kim phân bố rải rác trên các đỉnh dông, đỉnh núi đá. Ngoài các cây lá rộng thường gặp trong kiểu rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm vùng đồi, núi thấp và trung bình 500-1500m trong phân vùng, ở tầng ưu thế còn gặp một số loài lá kim như Du sam (Keteleria davidiana), Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Kim giao (Nageia spp.), Thông hai lá (Pinus merkusii)... Đây là hệ sinh thái rừng có giá trị kinh tế và khoa học trong tiểu vùng. Trữ lượng bình quân: 120-220 m3/ha.

 Núi trung bình Hoàng Su Phì (#8): Đặc trưng bởi kiểu rừng lá kim với loài ưu thế là Thông ba lá (Pinus kesiya). 



 
 
Khu vực Tây nguyên
 
       -Núi thấp Sa thầy (#31): rừng Thông 3 lá Măng đen, cao độ 1200m, Thông mọc chung với Pơ mu. Tầng cây thấp có nhiều loài họ Quế, họ Sim. Phụ sinh có nhiều loài Phong lan.
 
        -Khối núi Chư Yang Sin và cao nguyên Đà lạt (#38): Kiểu rừng lá kim, hỗn loài lá rộng lá kim đặc trưng bởi khu hệ cây lá kim rất phong phú như Thông5 lá đà lạt (Pinus dalatensis), Thông lá dẹt (P. krempfii), Thông ba lá (P. kesiya var. langbianensis), Thông nàng (Podocarpus imbricatus), Pơ mu (Fokienia hodginsii). Trên các đỉnh núi và các sườn dông cao xuất hiện hệ sinh thái rừng lùn với ưu thế thuộc về các loài Cà di nam bộ (Lyonia annamensis), Cà di lá xoan (L. ovalifolia) và một số loài Sặt nhỏ (Arundinaria spp.). Một trạng thái rừng thứ sinh khá đặc sắc ở vùng này là trạng thái rừng cây lá kim hơi khô với loài ưu thế là Thông ba lá (P. kesiya ).
 
       -Cao nguyên Di linh Bảo lộc (#39): Rừng lá kim, hỗn loài lá rộng lá kim
với đặc trưng là Thông hai lá (Pinus merkusii), mọc chung với một số cây lá rộng như Dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius), Dẻ (Quercus spp)…
 
4.4. Vài Sinh cảnh Rừng lá kim
 
   
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  5. Kiểu Rừng khô thưa lá rụng theo mùa cây họ Dầu (rừng Khộp)
 
      5.1. Hệ sinh thái rừng khộp
 
Rừng khộp phân bố tập trung ở tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai. Ngoài ra còn có ở Di Linh và những rừng khộp nhỏ phân bố ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Sông Bé, Tây Ninh. Rừng khộp phân bố từ vĩ độ 11B đến 14B, khoảng Tây ninh tới Kontum, tập trung ở độ cao từ 400 - 800 m.
 
Rừng khộp hình thành trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa có một mùa khô dài, nhiệt độ trung bình từ 21-27C, cao nhất 40C. Lượng mưa hàng năm từ 120-180 cm, và 90% lượng mưa rơi trong khoảng tháng 5-10, gây úng thuỷ. Đất mất nước rất nhanh. Độ ẩm không khí trung bình năm 80%.
 
Đất rừng khộp thuộc loại xấu, thường là các loại đất xám đỏ phát triển trên đá bazan, granit có tầng đất mỏng, có nơi xuất hiện đá ong. Cháy rừng hàng năm tiêu huỷ lớp thảm cỏ, do vậy tầng đất mặt mỏng và khô cứng. Rừng khộp trên đá mẹ phiến thạch sét, trên đất mỏng, thường có loài dầu đồng (Dipterocarpus tuberculatus ) chiếm ưu thế. Trên đất Feralit vàng nhạt, đá mẹ sa phiến thạch, thạch anh, riolit, loài dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius) chiếm ưu thế. Trên đất xám bạc màu trên phù sa cổ, thường có những loài cây chịu hạn, và dầu đồng (Dipterocarpus tuberculatus). Đất nâu trên phù sa cổ, thường xuất hiện loài chiêu liêu lông (Terminalia citrina), dầu đồng, cà chít (Shorea obtusa). Đất gley thường có loài dầu trà beng, dầu đồng…Đất đỏ bazan tầng đất mỏng, thường có loài dầu trà beng ưu thế.
 
Chế độ ngập nước trong mùa mưa là một trong những yếu tố phát sinh rừng khộp. Những loài cây thường xanh khác không thích nghi được với điều kiện ngập nước thì không thể tồn tại.
 
Lửa rừng: rừng khộp là đỉnh sinh thái do lửa. Hầu hết những loài cây trong rừng khộp đều có khả năng chịu lửa cao, có lớp vỏ cây chịu lửa, đặc biệt là rễ cây vẫn duy trì được khả năng tái sinh chồi rễ mạnh sau khi bị cháy.
 
-Cấu trúc rừng: hệ thực vật rừng khộp có liên quan đến khu hệ thực vật Mã lai-Nam dương với các loài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) chiếm ưu thế. Thực vật chúng rừng khộp bao gồm 309 loài cây thuộc 204 chi, 68 họ, trong đó có hơn 90 loài cây gỗ. Ngoài những loài cây họ Dầu chiếm ưu thế còn có đại diện của một số họ khác như: căm xe (Xylia xylocarpa) thuộc họ Đậu (Fabaceae), lọng bàng (Dilleniahe terosepala) thuộc họ Dilleniaceae, đẻn (Vitex pendencularia) thuộc họ Verbenaceae, mai xiêm (Ochrocarpus sp) thuộc họ Cheriaceae, mà ca (Buchanania arborescens) thuộc họ Anacardiaceae v.v…Trên đất tốt có thể xuất hiện một số loài cây có giá trị như giáng hương (Pterocarpus macrocarpus), cẩm lai (Dalbergia bariensis), nơi ẩm có thể gặp một số loài như dầu con rái, sao đen nhưng với số lượng ít và không phải là loài cây điển hình của rừng khộp.
 
Mật độ rừng thưa, tán cây không giao nhau. Trong mùa khô, cây rụng lá từ 3 - 4 tháng. Mật độ cây từ đường kính 10 cm trở lên từ 100- 350 cây/ha. Rừng thường chỉ có một tầng cây gỗ, nơi sinh trưởng tốt đạt chiều cao 20 - 25 m, nơi sinh trưởng xấu chỉ cao 7 - 8 m. Tầng thảm cỏ không rậm rạp.
 
Có 4 ưu thế cây họ dầu phổ biến:
 
     •Ưu thế cẩm liên (Shorea siamensis), tập trung ở độ cao từ 150 - 400 m, trên đất bằng khô cằn, đồi núi thấp, tầng đất cạn, cẩm liên chiếm ưu thế cùng với một số loài cây gỗ quý. Cẩm liên mọc chung với hai loài cây phổ biến là dầu đồng (Dipterocarpus tuberculatus ) và giáng hương ( Pterocarpus macrocarpus). Ngoài ra còn có các loài cây cà chít, kơ nia (cầy), gáo, căm xe, săng lẻ…hình thành nên trữ lượng lâm phần. Mật độ cây gỗ phổ biến từ 350 - 450 cây/ha. Rừng có đến 95% cá thể rụng lá. Cấu trúc tầng thứ đơn giản. Tầng cây gỗ có một tầng. Cây tái sinh nhiều, đặc biệt là cẩm liên, phần lớn là tái sinh chồi. Tầng cây bụi thưa thớt. Thảm tươi có le, cỏ cúc, cỏ tranh, cỏ lá v.v…thường bị chết trong mùa khô và là nguyên nhân gây cháy rừng hàng năm. Cẩm liên là loài gỗ lớn và quý, gỗ nặng. Cây rụng lá vào mùa khô. Cây cao đến 30 m, đường kính có thể đạt đến 80 cm. Khả năng tái sinh mạnh, đặc biệt là tái sinh chồi.
 
      •Ưu thế cà chít (Shorea obtusa), phân bố và điều kiện hình thành gần giống với cẩm liên. Vì vậy, hai ưu thế này thường phân bố xen kẽ lẫn nhau. Trên đất xám nền phù sa cổ sông Ba có nhiều Cà chít, chiếm ưu thế đến 50% cá thể và 55% tổng tiết diện ngang. Ngoài ra Cà chít còn mọc chung với cẩm liên, dầu đồng, chiêu liêu lông v.v…Tỉ lệ các loài cây thuộc nhóm gỗ quý, gỗ cứng đến 50 - 60%. Rừng giầu Cà chít này có trữ lượng khoảng 150 m3/ha; rừng nghèo chỉ có trữ lượng 35 - 40 m3/ha. Cấu trúc tầng thứ đơn giản. Tái sinh cà chít nhiều, sau đó là lành ngạnh, cẩm liên, dầu đồng…Cà chít là loài cây gỗ lớn, cây cao đến 25 – 35m, đường kính 90 cm, rụng lá về mùa khô, chịu được hạn và lửa rừng. Gỗ cà chít nặng, thớ mịn, bền.
 
        •Ưu thế dầu đồng ( Dipterocarpus tuberculatus), phân bố tập trung ở độ cao từ 300 - 400 m trên đồng bằng phù sa cổ hay chân núi thấp. Đất nghèo dinh dưỡng và cạn. Thành phẩn loài cây đơn giản, trong đó các loài cây thuộc họ Dầu và họ Bàng có số lượng cá thể nhiều nhất. Ba loài cây phổ biến mọc cùng với dầu đồng là chiêu liêu lông, cẩm liên, cà chít. Loài chiêu liêu lông có số lượng cá thể lớn nhưng trữ lượng rừng ít hơn vì kích thước nhỏ hơn. Ngoài ra, còn có các loài khác như dầu trà beng, cầy, vừng, gáo khộp, mà ca, lọng bàng, dầu mít, giẻ khô hạn v.v…Mật độ cây rừng trung bình khoảng 400 cây/ha, nhưng biến động lớn. Cấu trúc tầng thứ đơn giản. Tầng cây gỗ có một tầng. Tầng cây bụi và thảm tươi thưa thớt. Cây tái sinh có nhiều, bao gồm các loài dầu đồng, cà chít, cẩm liên, chiêu liêu đen, giẻ khô hạn…
 
          •Ưu thế dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius), phân bố tập trung từ 600 - 900 m, thuộc các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Lâm Đồng. Đất thuộc ba loại: đất đỏ bazan tầng đất dày, đất vàng nhạt trên cát kết, đất vàng nhạt trên đá mẹ granit. Tầng đất trung bình đến dày. Thành phần loài cây rừng đã phức tạp hơn vì độ cao phân bố cao hơn các ưu thế khác. Tỉ lệ các cá thể thường xanh trong quần thể cao hơn như thông hai lá, vối thuốc, dền v.v... Ngay loài dầu trà beng cũng không rụng lá hoàn toàn vào mùa khô. Ở đây có sự chuyển tiếp giữa ưu thế cây lá rộng và ưu thế cây lá kim. Dầu trà beng chiếm ưu thế tới tỉ lệ 65% cá thể và 71% tiết diện ngang. Dầu trà beng mọc hỗn hợp với dầu đồng, cà chít, giẻ khô hạn, thầu tấu, hoắc quang…
 
Cấu trúc tầng cũng phức tạp hơn. Thông hai lá chiếm tầng vượt tán. Tầng ưu thế sinh thái gồm có dầu trà beng và giẻ khô hạn hoặc chỉ có trà beng. Tái sinh xuất hiện các loài thường xanh như trám, nanh chuột, re, dung v.v…Các loài tái sinh nhiều: dầu trà beng, cẩm liên, thầu tấu, cà chít, giẻ khô hạn…       



 
      5.2. Các phân vùng sinh thái có rừng khộp
Khu vực Nam Trung Bộ
 
           -Gò đồi Nam Trung Bộ (#26): phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 300m, trên đất phù sa cổ tầng mỏng và nghèo chất dinh dưỡng. Cấu trúc rừng đơn giản, thường chỉ có 2-3 tầng, một tầng cây gỗ chiếm ưu thế cao khoảng 15m, có độ tàn che thấp, một tầng cây bụi và một tầng thảm tươi. Thành phần loài ưu thế thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) với đại diện các loài: Cà chít (Shorea obtusa), Cẩm liên (Shorea siamensis), Dầu chai (Dipterocarpus intricatus), Dầu trà beng (D. tuberculatus), Dầu đồng (D. obtusifolius), và các loài: Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus), Chiêu liêu khế (Terminalia alata = T.tomentosa), Trắc đen (Dalbergia nigrescens), Mô ca (Buchanaria reticulata), Kơ nia (Irvingia oliveri), Dẻ gai (Castanopsis indica), Bồ an (Colona nubla), Bộp lông (Actinodaphne pilosa), Hoàng linh bắc bộ (Peltophorum tonkinense), Đẻn trắng (Vitex penduncularis), Lá buông (Corypha lecomtei),Mật cật (Licuala bracteata). Lá buông có khi mọc thành những quần thụ thuần vùng Phan thiết-Bình tuy.
https://www.facebook.com/groups/124948084959931
 
PHỤ TRÁCH BIÊN TẬP
 
Sáng lập & Cố vấn:

TRẦN ĐĂNG HỒNG, PhD

Ban Biên tập :

VÕ THANH NGHI
vothanhnghiag@yahoo.com.vn
NGUYỄN THANH LIÊM
liem68dvb@gmail.com


Địa chỉ liên lạc: thnlscantho.3@gmail.com


Đặc San:
Đặc san XUÂN CANH DẦN (2010)
Đặc san XUÂN TÂN MÃO (2011)
Đặc san XUÂN NHÂM THÌN (2012)
Đặc san XUÂN QUÝ TỴ (2013)
Đặc san XUÂN GIÁP NGỌ (2014)
Đặc san XUÂN ẤT MÙI (2015)
Đặc san XUÂN BÍNH THÂN (2016)
Đặc san XUÂN ĐINH DẬU (2017)

Đặc san "Lưu Bút Ngày Xanh I (2010)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh II (2011)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh III
https://www.facebook.com/groups/124948084959931/
 
https://www.facebook.com/groups/124948084959931/
 
Today, there have been 362026 visitors (670896 hits) on this page!