Rừng ĐNA. Phần 6
Rừng Đông Nam Á
Nguyễn Lương Duyên
 
Núi đá vôi phân bố từ Hà Tiên đến Cao Bằng, nhưng chủ yếu từ Quảng Bình trở ra. Ở miền Nam (Hà Tiên), núi đá vôi chỉ giới hạn ở một vài khối núi lẻ tẻ, thưa thớt. Phân bố theo độ cao từ vài chục mét lên đến 1200 m. Nhiệt độ trung bình khoảng 20C, nóng nhất là tháng 6 và tháng 7, lạnh nhất là tháng 12 và tháng 1. Vũ lượng 1200-2500mm, độ ẩm trung bình 85%.
 
Khu vực núi đá hình thành trên nền đá mẹ là đá vôi là đất đỏ hung (terra rossa) nhiệt đới. Nơi có hiện tượng xói mòn xảy ra, thành phần thổ nhưỡng là đất đen xương xẩu trên núi đá vôi (rendzina).
 
Hệ thực vật vùng núi đá vôi mang tính chất pha trộn của nhiều luồng thực vật nhưng chủ yếu là luồng thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa. Thảm thực vật trên núi đá vôi Việt Nam phân bố không liên tục, tập trung ở cao độ 300 - 1200m. Rừng chỉ che phủ khoảng 35% tổng diện tích các núi đá vôi. Hệ thống thảm thực vật núi đá vôi phân bố theo cao độ (Cẩm nang Lâm nghiệp, 2006) như sau:   
 
             3.1. Kiểu Rừng thường xanh núi đá vôi có cao độ dưới 700 m
 
•Rừng núi đá vôi ở thung lũng: cấu trúc rừng phức tạp, có 5 tầng:
 
- Tầng vượt tán: cây cao trên 40 m thuộc các họ Đậu, Bàng, Dầu với các loài đặc trưng cho tầng này như: Sấu (Dracontomelum duperreanum), Tung (Tetrameles nudiflora), Sâng (Pometia pinnata), Chò nhai ( Anogeissus acuminata).
 
- Tầng chính: gồm những cây cao từ 20 đến 30m, thân thẳng, tán tròn
giao nhau làm nên tán rừng liên tục. Các họ có nhiều loài cây trong tầng này là: Fagaceae, Lauceae, Fabaceae, Sapindaceae, Magnoliaceae, Meliaceae và các loài Hopea siamensis, Knema sp, các Hopea khác.
 
 - Tầng dưới tán: gồm những cây cao dưới 15 m, mọc rải rác thuộc các họ: Bứa, Du (Ulmaceae), Na cùng với các chi: Lọ nồi (Hydnocarpus sp.), Trôm (Sterculia sp.), Mang (Pterospermum sp.), Dâu da (Baccaurea ramiflora), Ruối ô rô (Streblus ilicifolius).
 
 - Tầng cây bụi: gồm những cây bụi, gỗ nhỏ cao dưới 8 m thuộc các họ: Trúc đào,Cà phê, Mua (Melastomataceae), Ngũ gia bì (Araliaceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae), Ô rô (Acanthaceae)…
 
   -Tầng thảm tươi: gồm các cây thân thảo thấp dưới 2 m, thuộc các họ: Araceae, Acanthaceae, Urticaceae, Zingiberaceae, Begoniaceae, Convallariaceae…
 
    -Thực vật ngoại tầng gồm dây leo thuộc các họ: Nho (Vitaceae), Đậu, Mồng gà (Connaraceae) và các cây bì sinh, kí sinh thuộc họ Phong lan (Orchidaceae), Tầm gửi (Loranthaceae), họ Ráy (Araceae)…
 

 
 
 
 
Đây là kiểu thảm thực vật nguyên sinh mà điển hình là rừng thung lũng núi đá vôi ở Cúc Phương Ninh Bình). Một số loài cây ưu thế có các đại diện như sau: Annamocarya chinensis, Dracontomelum duperreanum, Bischofia javanica, Saraca dives, Saraca indica, Castanopsis symetri, Cryptocaria impressa, Elaeocarpus vigueri, Nephelium chryseum, Streblus macrophyllus, Xerospermum dongnaiensis, Heritiera cucphuongenesis, Heritiera macrophylla, Clausena excavata, Streblus macrophyllus, Micromelum falcatum…Có nhiều loài cây trong các ưu thế của kiểu rừng này có giá trị kinh tế cao như: chò chỉ (Parashorea sinensis), chò xanh (Terminalia myriocarpa), nghiến (Burretiodendron tonkinensis), trai (Garcinia fagraeoides), đinh (Markhamia stipularis), đinh thối (Fernandoa spp), vàng kiềng (Nauclea purpurea) v.v…
 
 
  
 
•Rừng trên sườn núi đá vôi: cấu trúc tầng thường gồm:
 
- Tầng vượt tán, ít khi có tầng này, cá biệt là Nghiến với đường kính >70 cm.
 
- Tầng chính: có độ khép tán cao, có chiều cao trung bình 10 - 15 m. Nhiều loài cây phổ biến của vùng núi đá vôi xuất hiện ở đây như: nghiến, trai, đinh, táo vòng, lòng mang (Pterospermum heterophyllum), trâm (Syzygium spp), thị (Diospyros sp.), kháo (Phoebe sp ), nhọc (Polyalthia sp), thôi ba (Alangium chinense). Tầng chính cũng có nhiều cây có đường kính lớn hơn 50 cm nhưng thấp về chiều cao. Các loài cây khác của rừng thường xanh sườn núi đá vôi gồm có: Ruối ô rô, Mạy tèo (Streblus macrophyllus), Quất hồng bì (Clausena lansium), Lòng tong (Walsura sp.), Arytera sp, Sếu (Celtis sp.), Trai (Garcinia fagraeoides), Phoebe sp, Lát hoa (Chukrasia tabularis), Táo vòng (Drypetes perreticulata), An phong (Alphonsea sp.), Mại liễu (Miliuisa).
 
- Tầng dưới tán: có chiều cao 5 - 10 m.
 
      
- Tầng cây bụi và thảm tươi
 

- Dây leo
 



 
 •Rừng trên đỉnh núi đá vôi: trúc rừng chỉ 1 đến 2 tầng cây gỗ:
 
- Tầng trên gồm những cây cao từ 8 - 15m như Schefflera spp., Memecylon sp., Sinosideroxylon sp., Boniodendron sp., Pistasia sp., cánh kiến (Mallotus philippensis)…
 
 - Thực vật tầng thấp là những loài cây bụi…và đôi khi có sự xuất hiện của Trúc nhật (Sasa japonica) làm thành rừng hỗn giao tre-cây gỗ trên đỉnh núi đá vôi thấp.
 
 - Thảm tươi ở đây thông thường vẫn là các loài đặc trưng cho núi đá vôi, như dương xỉ, quyển bá, riềng (Alpinia spp), thu hải đường, bóng nước (Impatiens spp), thuốc bỏng (Kalanchoe sp)…

 -Thực vật ngoại tầng có các loài cây thuộc họ Phong lan, tầm gửi (Loranthus spp), dây leo như Jasminum sp., mảnh bát (Coccinia grandis), đại hái (Hodgsonia macrocarpa)…

 
 
 
•Rừng hậu lập thường xanh núi đá vôi: rừng này là thoái hoá của rừng giầu trước đây do khai thác, nhất là khai thác gỗ nghiến làm thớt, và khai thác đá. Độ tàn che của rừng thấp. Cấu trúc tầng của rừng như sau:
 
 -Tầng vượt tán: ưu thế là các loài nghiến (Burretiodendron tonkinensis) , sếu (Celtis timorensis), táo vòng (Drypetes perreticulata) cao tới 30m. Ở những nơi ẩm như khe suối thì xuất hiện loài phay (Duabanga grandiflora) với thân cao lớn.
 
- Tầng chính, cao 15 - 20 m, gồm các loài ở tầng vượt tán và mạy tèo, ruối ô rô, vỏ dụt, táu lá nhỏ, thành ngạnh, bồ đề…
 
- Tầng dưới tán có chiều cao từ 6 - 15 m. Tầng dưới tán thưa thớt, gồm các loài cây gỗ nhỏ và cây tái sinh.
 
 - Tầng cây bụi và thảm tươi.
           
            
              3.2 Kiểu rừng thường xanh núi đá vôi có cao độ trên 700m
 
Khu vực núi đá vôi có độ cao trên 700m, phân bố ở miền Bắc, tập trung ở khu vực Đông Bắc. Ngoài ra, còn một số đỉnh núi đá vôi rải rác ở Bắc Trung Bộ dọc theo biên giới Việt – Lào
 
          •Rừng cây lá rộng thường xanh thung lũng và chân núi đá vôi: Nằm ở các thung lũng hẹp dưới chân núi đá vôi, xa dân cư nên rừng còn tốt, mật độ cây cao, tán rừng đạt từ khoảng 0.7, cây có kích thước tương đối lớn, chiều cao trung bình 15 - 20 m. Rừng có 3 tầng cây gỗ:
 
 - Tầng vượt tán: cây lớn, chiều cao đạt tới 20 - 25 m. Thành phần loài cây bao gồm các loài như gội, phay, đinh, sâng, nghiến, trai, táo vòng, chò nâu (Dipterocarpus retusus), chò chỉ, táu ruối (Vatica diospyroides), cùng với các loài sồi, dẻ, mộc lan (Michelia sp.), Manglietia, và các loài thuộc họ Long não.
 
   - Tầng chinh: cây cao trung bình 10 - 15 m, có độ khép tán cao. Ngoài cây tầng vượt tán có mặt, còn có các loài khác như: thị, chẹo, nhội (Bischofia javanica), cà muối (Cipadessa baccifera), nhọ nồi (Hydnocarpus clemensorum ), lòng mag, sếu, sơn trà, re, xoan hôi (Toona sinensis), lát núi (Koelreuteria sp.)
 
    - Tầng dưới tán: gồm có một số loài cây cao sát tầng chính như ruối ô rô, mạy tèo, nhọ nồi, thị, ngát, nhọc, mắc mật…
 
    - Tầng cây bụi và thảm tươi phát triển khá.
 
•Rừng cây lá rộng thường xanh sườn núi đá vôi: các tầng rừng gồm:
 
 - Tầng vượt tán: ít khi có, cá biệt có nghiến nhô lên đường kính > 70cm.
 
 - Tầng chính: tán che kín, chiều cao trung bình 10 -15 m. Nhiều loài cây phổ biến của vùng núi đá vôi xuất hiện ở đây như: nghiến, trai, đinh, táo vòng, lòng mang, trâm, thị, kháo (Phoebe sp ), nhọc, thôi ba (Alangium chinense). Tầng chính cũng có nhiều cây có đường kính thân cây lớn hơn 50 cm nhưng thấp về chiều cao.
 
   - Tầng dưới tán có chiều cao 5 - 10 m.
 
   - Tầng cây bụi thảm tươi có nhiều loài cây và dương xỉ.
    - Dây leo có các loài thuộc họ Táo ta.
 



 
             Rừng hỗn giao cây lá rộng, lá kim núi đá vôi: rừng này chiếm diện tích nhỏ phân bố trên các đỉnh núi hoặc đỉnh giông núi. Độ tàn che khoảng 0.3-0.4. Chiều cao của tầng cây gỗ thấp.
 
       - Tầng trên gồm các loài đa, sanh (Ficus sp.), trâm, chân chim tám lá (Schefflera octophylla), hồ đào núi, du đá vôi (Ulmus sp.), Pittosporum sp… Trên núi đá vôi ở Quảng Ninh còn có một loài đặc hữu là Schefflera halongensis. Ngoài các loài cây lá rộng như trên, còn có các loài cây hạt trần mọc chung như các loài tuế, hoàng đàn (Cupressus torulosa), hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), kim giao (Nageia fleuryi), thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri), thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis), du sam đá vôi (Keteleeria davidiana var. davaniana), sam bông sọc nâu (Amentotaxus hatuyenensis), sam bông sọc trắng (A. yunnanensis), thông đỏ (Taxus chinensis), sam kim hỷ (Pseudotsuga chinensis), bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis). Hầu hết chúng là những cây gỗ quí.
 
         - Tầng thấp chủ yếu là các loài cây như thanh hương, cồng), mắc mật (Clausena indica), huyết giác (Dracaena cambodiana), thu hải đường, mã hồ (Mahonia nepalensis), cỏ lá tre (Setaria palmifolia). Ngoài ra, còn có những loài tre và Sasa japonica mọc cùng nhau.
 
Thảm thực vật trên đỉnh núi đá vôi đai cao cho thấy có sự chuyển tiếp từ nhiệt đới sang á nhiệt đới. Do đó, ngoài những loài cây lá kim, còngặp các loài rụng lá và bán rụng lá thuộc họ Dẻ, côm (Elaeocarpus sp.), phong (Acer sp.), sòi (Balakata baccata), bồ đề.
 
Rừng lùn cây lá rộng đỉnh núi đá vôi: rừng chỉ có một tầng với
những cây gỗ nhỏ chiều cao khoảng 6-10 m. Đây là một kiểu thảm thực vật rất đặc biệt, có các loài cây gỗ nhỏ hạt trần như tuế, thiết sam giả, thiết sam giả lá ngắn, thiết sam đông bắc…Tầng cây gỗ nhỏ còn có các loài cây lá rộng hồi núi (Illicium griffithii), các loài ngũ gia bì (Schefflera spp), sồi, dẻ, chè núi (Ternstroemia japonica ), Pistacia weimanifolia.
 
Ngoài ra còn có các loài thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae) và các loài quế/re, lài núi (Jasminum lanceolarium), câng (Tirpitrzia sinensis)…
 
Cây bụi còn có các loài cây như mua bà núi cao, mâm xôi, ngấy (Rubus spp), sầm (Memecylon)…Thảm tươi và thực vật ngoại tầng có các loài thuộc họ Phong lan (Orchidaceae), Rêu (Bryophyta) và Địa y (Lichenophyta) cùng với các loài thuộc họ Cà phê và các loài cây dây leo chủ yếu là Jasminum lanceolarium, kim cang (Smilax spp), họ Nho (Vitaceae), bàm bàm, móng bò…
 
Đây là nơi còn lưu trữ nhiều tiềm năng đa dạng sinh học cần được bảo tồn. Rất nhiều loài phong lan, đặc biệt là lan hài được tìm thấy ở đây là nhữngloài mới cho khoa học; chúng thuộc các chi: Bullbophyllum, Phajus, Cheirostylis, Gastrochilus, Liparis,Paphiopedilum, Renanthera. Ngoài ra còn có nhiều loài hạt trần khác cũng mới được khám phá gần đây như bách vàng, du sam đá vôi v.v…
 
 
Rừng thứ sinh cây lá rộng núi đá vôi: loại rừng này cũng là hậu quảdo tác động của con người đối với thảm thực vật trên núi đá vôi ở đai cao. Độ khép tán khoảng 0.3-0.4.
 
-Tầng ưu thế có chiều cao 15 - 20 m. Các loài cây đại diện là: cà muối, gội, lát núi, xoan hôi, bồ hòn, trâm, hồ đào núi (Platycarya strobiacea)…Rừng thứ sinh này còn lại rải rác các cây gỗ quí như nghiến, trai, các loại đinh…
 
-Tầng dưới tán gồm những cây tái sinh của tầng trên và quất hồng bì, thôi tranh, dọt sành (Pavetta sp.), huân lang (Wendlandia spp), thập tử mảnh (Decaspermum gracilentum), mận (Prunus spp)…
 
-Tầng cây bụi và thảm tươi có nhiều loài phát triển mạnh vì rừng thưa. Đó là các loài cây như mua bà núi cao (Oxyspora paniculata), Melastoma spp, các loài họ Thầu Dầu, họ Gai (Urticaceae), họ Cà phê, họ Thượng tiễn (Gesneriaceae) và dương xỉ. Dây leo có các loài thuộc họ Táo ta (Rhamnaceae), họ Khoai lang (Convonvulaceae) v.v…
 
                      3.3. Các phân vùng sinh thái có kiểu rừng trên đá vôi
 
Khu vực Đông Bắc:
 
          -Núi thấp Bảo lạc- Ba bể (#10) và Khối núi đá vôi Đồng văn (#11): rừng đặc trưng cho tiểu vùng là rừng hỗn loài trên núi đá vôi, địa hình
dốc, nền đất mỏng, thường xuyên thiếu nước nên thành phần thực vật ở đây tương đối nghèo nàn nhưng do cấu trúc địa hình phức tạp, sự đa dạng trong cách sắp xếp đá của mặt nền cộng với sự phân hoá của khí hậu nên thành phần thực vật phân bố trong những khu vực khác nhau cũng có sự phân hoá rõ rệt. Những nơi sườn dốc thẳng đứng thực vật chủ yếu là các loài cây nhỏ, dây leo, có gai, chịu hạn như dây Móng bò, Vuốt hùm (Caesalpinia minax)... Những nơi sườn dốc thoải phân bố các loài như Ô rô (Taxotrophis ilicifolius), Hèo đá (Rhaphis micrantha), Thấu lĩnh bắc bộ (Alphonsea tonkinensis), Chân chim (Schefflera leucantha), Đại phong tử (Hydrocarpus annamensis)... Các loài có kích thước lớn mọc rải rác theo các hang hốc, kè đá như Nghiến (Burretiodendron hsienmu), Trai (Garcinia fagracoides), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Chò vẩy (Dysoxylum hainanense var. bbbbhuyglaberrimumbvtv), Bản xe (Adenanthera lucida), Sâng (Pometia pinnata), Trường mật (Paviesia annamensis)… Các loài ưu thế có Thị (Diospyros sylvatica), Dẻ lá tre, Đỗ quyên, Nghiến, Dẻ (Lithocarpus).
 
 
 
 
          -Khối núi đá vôi Bắc sơn (#13): chủ yếu là kiểu rừng hỗn loài trên núi đá vôi. Trên các sườn núi đá vôi, thảm thực vật gồm các loài cây như Nghiến, Trai, Trường mật, Trâm…, chiếm 25-30% số lượng cây đứng. Các loài cây chịu hạn có tỷ lệ lớn. Tầng dưới tán hình thành tương đối rõ rệt, thường là các cây có thân không thẳng, chia cành sớm thuộc các loài Săng quít, Ô rChè báo... chiếm 30-40% số lượng. Trên các đỉnh núi đá vôi thảm thực vật khá thưa và gồm các loài như Ô rô, Trường, Vải (Nephelium spp.), Nhãn (Euphoria spp)…
 
          -Đảo Đông Bắc bộ (Cát bà, Bạch long vĩ, #16): kiểu rừng hỗn loài trênnúi đá vôi ở khu vực này phân bố phần lớn trên đảo Cát Bà, đặc trưng là kiểu rừng kín thường xanh và tương đối giàu có về thành phần loài, có ít nhất là gần 900 loài thực vật bậc cao có mạch có mặt trong kiểu rừng này.
 
Khu vực Bắc Trung bộ:
 
            -Khối núi đá vôi Phong nha-Kẻ bàng (#23): đặc trưng là rừng hỗn loài trên núi đá vôi. Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi phân bố rộng khắp trong vùng và chứa đựng nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và giàu có. Thực vật là các cây lá rộng thuộc các họ Dẻ, họ Long não, họ Thầu dầu, họ Mộc Lan, họ Đậu, họ Hồng xiêm (Sapotaceae).
 
Các loài cây có số lượng lớn, ưu thế đáng chú ý là các loài Cà ổi (Castanopsis indica), Sồi (Lithocarpus dussaudi), Dẻ đá ( Lithocarpus coachilus), Dẻ cau (Quercus fleury) thuộc họ Dẻ (Fagaceae). Khu vực này cũng là vùng phân bố của nhiều loài họ Long não (Lauraceae) với chi Re (Cinnamomum). Đây cũng là khu vực có nhiều loài gỗ quý thuộc họ Mộc Lan (Magnoliaceae) như Giổi thơm (Tsoogiodendron odorum), Vàng tâm (Manglietia dandy)...
 
Ở độ cao từ 1000m trở lên thuộc về một số loài khác như Dẻ lá tre (Quercus bambusaefolia); Cứt ngựa (Archidendron tonkinense), nhiều loài thuộchi Re (Cinnamomum). Đáng lưu ý ở độ cao này còn gặp nhiều loài Hạt trần như Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius), loài Bách xanh núi đá (Calocedrus rupestris). Những loài cây Hạt trần thường nằm trong tầng vượt tán, cây gỗ lớn dễ nhận ra từ xa, tạo nên một kiểu rừng cây hỗn giao cây lá rộng và lá kim.
 
Trên khối núi đá vôi Phong Nha-Kẻ Bàng đã thống kê được ít nhất là 1214 loài thực vật bậc cao có mạch nằm trong 581 chi và 158 họ thực vật.

 

https://www.facebook.com/groups/124948084959931
 
PHỤ TRÁCH BIÊN TẬP
 
Sáng lập & Cố vấn:

TRẦN ĐĂNG HỒNG, PhD

Ban Biên tập :

VÕ THANH NGHI
vothanhnghiag@yahoo.com.vn
NGUYỄN THANH LIÊM
liem68dvb@gmail.com


Địa chỉ liên lạc: thnlscantho.3@gmail.com


Đặc San:
Đặc san XUÂN CANH DẦN (2010)
Đặc san XUÂN TÂN MÃO (2011)
Đặc san XUÂN NHÂM THÌN (2012)
Đặc san XUÂN QUÝ TỴ (2013)
Đặc san XUÂN GIÁP NGỌ (2014)
Đặc san XUÂN ẤT MÙI (2015)
Đặc san XUÂN BÍNH THÂN (2016)
Đặc san XUÂN ĐINH DẬU (2017)

Đặc san "Lưu Bút Ngày Xanh I (2010)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh II (2011)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh III
https://www.facebook.com/groups/124948084959931/
 
https://www.facebook.com/groups/124948084959931/
 
Today, there have been 361752 visitors (670592 hits) on this page!