RỪNG ĐÔNG NAM Á
KS Nguyễn Lương Duyên
PHẦN 4.
1. Yếu tố Vật Lý Rừng Việt Nam Hiện Tại
Một cách tổng quát các quần hệ thực vật (biomes) trên trái đất hình thành tuỳ vùng khí hậu, với hai yếu tố chính là nhiệt độ và vũ lượng. Khí hậu cũng thay đổi với cao độ. Những vùng núi ở nhiệt đới có khí hậu giống như ôn đới, và rừng do đó cũng có những đặc tính của rừng vùng ôn đới. Việt nam nằm trong đai quần hệ rừng nhiệt đới ẩm, với khí hậu nhiệt đới gió mùa, trải dài 15 vĩ độ.
Nhiệt độ trung bình hàng năm cao 20-26⁰C, biên độ nhiệt trung bình khoảng 16⁰C. Lượng mưa trung bình phần lớn lãnh thổ trên 1,600mm. Ẩm độ không khí rất cao, 70-90%. Gió mùa Đông bắc (gió bấc) thổi trong khoảng tháng 11 đến tháng 3, gió mùa Tây nam (gió nồm) thổi khoảng tháng 5 đến tháng 9. Hai kỳ lặng gió ngắn xen kẽ giữa hai mùa.
Kiểu rừng cũng chịu ảnh hưởng của cao độ và thổ nhưỡng. Nhìn chung ¾ lãnh thổ là cao nguyên và núi. Vùng có khí hậu cận nhiệt đới thường được coi là có cao độ trên 700 m ở miền Bắc và trên 1000 m ở miền Nam.
Rừng nhiệt đới thường xanh thường ở trên các loại đất Acrisols (đất xám) giàu sét, ít màu mỡ và Ferralsols (đất đỏ) tương đối phì nhiêu. Rừng khô nhiệt đới hiện diện trên đất Lixisols (đất nâu) nghèo dưỡng chất và cạn vì dễ bị xói mòn. Rừng ngập nước, mặn hay phèn, gặp trên đất Solonchaks (đất mặn) trẻ, úng nước và đất Thionic Fluvisols (phèn chua) pH thấp.
Theo thống kê tháng 12/2022 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam, hiện nay toàn quốc có 14.75 triệu ha rừng, che phủ 42% diện tích, gần bằng với con số che phủ của rừng năm 1943 là 43%. Rừng tự nhiên khoảng 10.17 triệu ha, rừng trồng 4.57 triệu ha. Trữ lượng gỗ khoảng 1.1 tỷ m³, tức khoảng 76m³/ha. So với con số công bố năm 2009, diện tích rừng là 13.3 triệu ha, trữ lượng gỗ ước tính là 61m³/ha thì diện tích rừng và trữ lượng trên ha khả quan hơn. Rừng được coi là giàu chỉ chiếm 8.7%, rừng nguyên thuỷ hay bị tác động không đáng kể chỉ còn dưới 4%.
Ước tính đầu tiên về diện tích rừng Việt nam được Paul Maurand đưa ra năm 1943 là rừng tự nhiên chiếm 43% diện tích lãnh thổ, tức khoảng 15 triệu ha. Do lạm thác trong thời gian dài, diện tích rừng xuống thấp nhất vào năm 1990, ước tính chỉ còn khoảng 9.1 triệu ha (8.4 triệu ha rừng tự nhiên và 0.7 triệu ha rừng trồng) hay 28% lãnh thổ.
Nhìn vào bản đồ hiện trạng và trữ lượng carbon, dễ nhận ra tuy diện tích đất có rừng cao, nhưng trữ lượng giảm một cách đáng kể. Những vùng được coi là trữ lượng cao chỉ còn dọc dãy Trường Sơn Bắc và Nam, nhưng cũng không còn liền lạc nữa. Theo Liên Hiệp Các Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam (VUSTA), mức tăng trưởng rừng tự nhiên ở Việt Nam là từ 1-3 m³/ha.năm. Tác giả bài viết này có thực hiện một số đo đạc ở Mã Đà (Đồng Nai) và Lang Hanh (Lâm Đồng) ghi nhận khoảng 5 -5.5 m³/ha.năm.
Ghi chú: Để có thể chuyển đổi qualại từ trữ lượng carbon tấn/ha sang đơn vị quen thuộc m³/ha.
D. Các Kiểu Rừng Việt Nam
Công việc phân loại các kiểu rừng đã được nhiểu thế hệ các nhà lâm học và môi trường học lưu tâm từ lâu.
Việc phân loại rừng ở Việt nam có những tiến bộ đáng kể, từ những phân loại dựa thuần trên vùng địa lý từ đầu thế kỷ 20 đến phân loại hiện hành dựa trên Sinh thái học của Thái Văn Trừng (1999), hiện được đa số những nhà khoa học, giáo dục, và quản trị lâm nghiệp trong nước chấp nhận.
Công việc phân loại rừng là một công trình tổng hợp lớn, dựa trên sự đóng góp của nhiều nhà giáo dục, nhà nghiên cứu khoa học trong ngoài nước và nhà quản trị tài nguyên, qua thời gian dài cả thế kỷ, với sự góp sức của nhiều bộ môn như Khí Hậu học, Thổ nhưỡng học, Thọ mộc học, Thực Vật Học, Sinh môi học, Quản trị Lâm phần, Dưỡng Lâm… mà sự tận tuỵ của các GS Paul Maurand, GS Lương Sĩ Chương, GS Lê Văn Ký, GS Lê Văn Mười, GS Thái Văn Trừng,GS Phùng Trung Ngân, GS Phạm Hoàng Hộ, GS Thái Công Tụng… đã truyền lưu lại cho lớp hậu sinh.
Các kiểu rừng của bài viết này dựa trên tổng hợp của hai báo cáo về hiện trạng rừng Việt nam, được soạn thảo công phu, đầy đủ với sự chủ biên của những nhà khoa học lâm nghiệp hàng đầu Việt nam hiện tại:
1) Cẩm Nang Ngành Lâm Nghiệp, Chương Hệ Sinh Thái Rừng Tự Nhiên Viêt Nam, do Bộ Nông Nghiệp phát hành năm 2006.
2) Báo Cáo Cuối Cùng Phân Vùng Sinh Thái Lâm Nghiệp Việt Nam, của Trung Tâm Nghiên Cứu Sinh Thái và Môi Trường Rừng, năm 2011. Liệt kê thực vật chúng vùng dựa phần lớn vào báo cáo này.
Xin được dẫn lời nhắn nhủ của GS Lê Văn Mười căn dặn sinh viên khi dạy Quản Trị Lâm Phần (trước 1975), “ Nhà quản trị rừng giỏi phải biết thương rừng. Muốn thương rừng trước nhứt phải học để hiểu rừng.”
Dựa vào văn bản cổ, nhà nước Đại Việt thời Hồng đức (triều đại Lê sơ) khoảng 1470-1497, có phân chia các loại rừng nhằm mục đích kiểm soát việc khai thác lâm thổ sản và thu thuế.
Công việc phân loại rừng Việt nam đầu tiên trên thế giới là do nhà thực vật học Chevalier, năm 1918, phân chia rừng miền Bắc Việt nam thành 10 kiểu.
Năm 1943, nhà lâm học Paul Maurand, dựa trên điều kiện địa lý và cấu trúc rừng, chia rừng Đông dương thành 8 kiểu, trên ba thảm thực vật Bắc, Nam Đông dương và vùng trung gian.
Năm 1953, Maurand và Lý văn Hội, Rollet, và Neang Sam Oil phân loại chi tiết hơn về Rừng miền Nam Việt nam.
Năm 1956 nhà lâm học Dương Hàm Hy, Trung hoa, có đưa ra một phân loại mới cho rừng miền Bắc Việt nam.
Bảng phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục Điều tra và Quy hoạch rừng thuộc Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam, bảng phân loại này xây dựng năm 1960. Theo bảng phân loại này, rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm bốn loại hình lớn, chỉ dựa trên tình trạng khai thác rừng của con người.
Năm 1967 (?), bộ Canh nông Việt nam Cộng hoà có bảng phân loại rừng miền Nam trong báo cáo The Forests of Free Vietnam.
Năm 1968, Phùng Trung Ngân trong các bài giảng Sinh môi học cho trường Cao đẳng Thuỷ Lâm miền Nam VN, cũng đưa ra bảng phân loại rừng miền Nam trên quan điểm sinh môi.
Năm 1970, Trần Ngũ Phương đưa ra bảng phân loại rừng ở miền bắc Việt Nam, cho rằng VN chỉ có loại rừng gió mùa và chia rừng miền Bắc thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao.
Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat, 1975), Thái Văn Trừng đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm sinh thái. Đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất trên quan điểm sinh thái, được sử dụngcho đến nay.
Phân loại rừng giúp ích cho vấn đề quản trị rừng hợp lý về mặt khoa học sinh thái, lâm học, môi trường, xã hội và khai thác bền vững tài nguyên tái tạo được là rừng.
Phân chia vùng sinh thái với các tiểu vùng của Research Center for Forest Ecology and Environment (RCFEE) thuộc Viện Khoa học Rừng Việt nam (2011):
Các vùng sinh thái lâm nghiệp không trùng với sự phân chia các vùng sinh thái nông nghiệp. Phân chia vùng sinh thái lâm nghiệp Việt namdựa trên các nền dữ kiện về khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, xã hội, năng suất sinh học, chuyển hoá vật chất trong hệ, và thẩm mỹ.
1. Kiểu Rừng ẩm kín lá rộng thường xanh nhiệt đới
Đây là kiểu rừng có phân bố rộng rãi khắp Việt nam, ở cao độ dưới 700m ở miền Bắc và dưới 1000m ở miền Nam. Kiểu rừng này hiện diện ở phía Tây và Đông Bắc, kéo dài xuống tới Tây nguyên và hải đảo. Rừng rất phong phú về chủng loài cây và đầy đủ cấu trúc 5 tầng, cùng với những loài dây leo, thực vật phụ sinh và ký sinh. Nhiệt độ trung bình từ 20⁰-25⁰C, lượng mưa hàng năm thường trên 200 cm, có mùa khô ngắn 3 tháng. Theo Cẩm nang Lâm nghiệp, 2006, kiểu rừng này như sau:
Cấu trúc tầng tự nhiênđầy đủ của rừng ẩm kín lá rộng thường xanh gồm có:
- Tầng vượt tán: cây gỗ cao đến 40-50 m, thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Đậu (Fabaceae)…
-Tầng chính: phần lớn là những loài cây thường xanh cao 20-30m, thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), họ Quế (Lauraceae), họ phụ Điệp (Caesalpinoideae), họ phụ Trinh nữ (Mimosoideae), họ phụ Cánh bướm (Papilionoideae), họ Nhãn (Sapindaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Dạ hợp (Magnoliaceae), họ Trám (Burseraceae), v.v.
-Tầng dưới tán: cao từ 8 - 15 m, mọc rải rác dưới tán rừng, thuộc các họ Bứa (Clusiaceae), họ Sếu (Ulmaceae), họ Đậu khấu (Myristicaceae), họ Mãng cầu (Annonaceae), họ Hồng quân (Flacourtiaceae), v.v.
-Tầng cây bụi: cao từ 2 - 8 m
-Tầng cỏ cao không quá 2 m
Một vài loài quen thuộc tầng rừng trên (xem thêm hình các mục trước):
Khu miền Bắc, thực vật chúng ảnh hưởng Nam Trung Hoa. Rừng ẩm thường xanh hiện diện ở vùng thấp, độ cao dưới 700 m.
1.1 Khu vực Tây Bắc:Thảm thực vật rừng trước đây rất phong phú. Các loài ưu thế chính thường thuộc họ Re (Lauraceae); họ Dẻ (Fagaceae); họ Xoan (Meliaceae); họ Dâu tằm (Moraceae); họ Mộc lan (Magnoliaceae); họ Đậu (Fabaceae); họ Xoài (Anacardiaceae); họ Trám (Burseraceae); họ Bồ hòn (Sapindaceae); họ Hồng xiêm (Sapotaceae), v.v.
-Thượng nguồn sông Đà và sông Mã (vùng sinh thái # 1 và #2) nhìn chung hiện nay rừng trong vùng Tây Bắc đã bị tác động mạnh, rừng nguyên sinh hầu như không còn, chủ yếu là các trạng thái thứ sinh nhân tác. Trữ lượng thấp.
- Sơn la Mộc châu (#3) còn kiểu rừng này ở những vùng đồi núi thấp, phát triển trên tầng đất mỏng nhưng giàu mùn và thoát nước nhanh. Các loài ưu thế gồm: Ô rô (Taxotrophis illicifolia), Nghiến (Excentrodendron tonkinense), một số loài Dẻ (Quercus acutissima, Q. serrata), Mạy chấu (Carya tonkinensis, C. chinensis), Chẹo (Engelhardtia spp.) và một số loài Re (Phoebe, Actinodaphne, Litsea)... Trữ lượng trung bình 100-200 m3/ha.
Một số loài tiêu biểu:
-Thung lũng sông Đà (#4) kiểu rừng này có các loài ưu thế thuộc về các chi Bời lời (Litsea), Kháo (Machilus), Dẻ cau (Lithocarpus), Castanopsis (thuộc họ Dẻ - Fagaceae)… và một số loài khác như Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Ô rô (Taxotrophis illicifolia), Trai (Garcinia fagraeoides), Sếu (Celtis spp.)… Trữ lượng 80-150 m3/ha.
Một vài loài tiêu biểu:
-Khối núi Hoàng liên Sơn (#5):
+ Ở vùng đồi, núi thấp vầ trung bình 500-1500m có ưu thế của một số loài Dẻ núi cao thuộc chi Dẻ (Lithocarpus), chi Sồi (Quercus) thuộc họ Dẻ (Fagaceae); Hồi núi (Illicium spp) họ Iliciaceae; các loài trong chi Súm (Eurya), Trà (Camelia), Chè cánh (Hartia) thuộc họ Chè (Theaceae); một số loài trong chi Thích (Acer) thuộc họ Phong (Aceraceae); Tống quá sủ (Alnus nepalensis) thuộc họ Cáng lò (Betulaceae); chi Giổi (Magnolia), Mỡ vàng tâm (Manglietia) thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae), chi Rụm (Diplopanax) họ Cam tùng (Araliaceae); chi Năm lá (Pentaphylax) thuộc họ Pentaphyllaceae, chi Hồng quang (Rhodoleia) thuộc họ Hồng quang (Rhodoleiaceae)... hoặc mọc chung với lá kim như Pơ mu (Fokienia hodginsii) thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae), Thiết sam (Tsuga yunnanensis) và Vân sam (Abies delavayi) thuộc họ Thông (Pinaceae). Trong kiểu rừng này thảm thực vật nổi trội bởi các loài trong họ Đỗ quyên (Ericaceae) mà chủ yếu nằm trong chi Đỗ quyên (Rhododendron), chi Cà di (Lyonia), chi Châu thụ (Gaultheria).
+ Ở vùng núi cao >1500m khu vực này phát triển trên nền đất chua và mỏng, sương mù quanh năm, nhiệt độ thấp,lượng mưa từ 180-320 cm/năm. Kiểu rừng này được tạo thành bởi các cây gỗ lùn bao gồm các loài thuộc các họ Đỗ quyên (Ericaceae), Hồi (Illiciaceae), Hoa hồng (Rosaceae), Chè (Theaceae), v.v, mọc lẫn với Thiết sam (Tsuga yunnanensis), Vân sam (Abies delavayi) và một số loài tre trúc.
- Hoà bình-Ninh bình (#6): thấp dưới 700m, tuy nhiên rất ít gặp kiểu rừng này ở trạng thái nguyên sinh mà chủ yếu là dạng thứ sinh nhân tác.Tầng ưu thế của kiểu này thường được tạo thành bởi các loài Sao (Hopea odorata), Táu muối (Vatica fleuryana), Trám trắng (Canarium album), Hoàng linh (Pelthophorum sp.) và nhiều loài cây khác với độ tàn che 60-70%, chiều cao trung bình 25-35m.
1.2 Khu vực Đông Bắc,kiểu rừng vùng này ở cao độ thấp <700m với các loài đại diện như Sao (Hopea spp.), Táu muối (Vatica spp.), Trám trắng (Canarium alba); ở cao độ của vùng đồi, núi thấp và trung bình 500-1500m có các loài Dẻ (Castanopsis spp.), Dẻ đá (Lithocarpus spp.), Sồi (Quercus spp.), Mắc niễng (Eberhardtia tonkinensis) và đặc biệt là rừng lá kim Thông 3 lá (Pinus kesyia) hỗn loài với lá rộng.
-Thung lũng sông Hồng- sông Chảy (#7):
+ Vùng thấp <700m thường gặp trên các loại đất phong hóa từ các đá mẹ như phiến thạch, sa thạch, granít, đaxit trừ đá vôi. Trạng thái nguyên sinh hầu như vắng mặt thay vào đó là các trạng thái thứ sinh nhân tác và đang trong các giai đoạn diễn thế đi lên hoặc đi xuống. Khi rừng phục hồi đến giai đoạn ổn định, tầng ưu thế sinh thái bao gồm các loài đặc trưng của vùng như Sao, Táu muối, Trám trắng, Hoàng linh…và nhiều loài cây gỗ khác với độ tàn che 60-70% và chiều cao trung bình tán rừng từ 25-30m. Các pha diễn thế trước giai đoạn ổn định có thể gặp các loài Ngát (Gironniera subaequalis), Bứa (Garcinia oblongifolia), Bùm bụp (Mallotus spp.), Xoan đào (Prunus arborea), Ràng ràng (Ormosia spp.), Chò chỉ (Parashorea chinensis), Giổi (Michelia spp.), Gội (Aglaia gigantea), Sâng (Pometia pinata).
+Vùng đồi núi thấp và trung bình, độ cao >500m, thành phần loài có khác nhau tuỳ theo cao độ. Cây ưu thế sinh thái trong kiểu rừng này thuộc các loài Dẻ (Fagaceae), một số loài Chẹo (Engelhardtia spp.), Bộp lông (Actinodaphne pilosa), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Cáng lò (Betula alnoides), một số loài Giổi thuộc các chi Giổi (Michelia spp)…Từ 900m trở lên, thấy xuất hiện các loài á nhiệt đới thuộc các chi Mắc niễng Eberhardtia (Sapotaceae), chi Acer (Aceraceae), Sơn trà Eriobotrya (Rosaceae), Giổi Michelia (Magnoliaceae)... Độ cao trên 1000m có thêm các loài lá kim, đặc biệt là Pơ mu (Fokienia hodginsii).
-Núi trung bình Hoàng Su Phì (#8): vùng này còn có kiểu rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm đồi núi thấp và trung bình 500-1500m và kiểu rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm núi cao trên 1500m.
-Thượng nguồn sông Lô-sông Gấm (#9): Kiểu vùng thấp dưới 700m và kiểu rừng đồi, núi thấp và trung bình 500-1500m với các loài ưu thế thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Dâu tằm (Moraceae)… Ngoài ra còn có mặt của một số loài cây lá kim như Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius), Kim giao núi đất (Decussocarpus wallichianus), Pơ mu (Fokienia hodginsii).
-Trung du Phú thọ-Vĩnh Phúc-Thái nguyên-Bắc giang (#12): Kiểu rừng vùng thấp dưới 700m, phần lớn đã bị tác động mạnh chỉ còn lại các trạng thái phục hồi thứ sinh với các loài thường gặp là: Dẻ gai (Castanopsis spp.), Trâm (Syzygium spp.), Ràng ràng (Ormosia balansae), Re (Cinnamomum spp.), Bứa (Garcinia boni), Tai chua (Garcinia cowa), Máu chó (Knema sp.), Côm (Elaeocarpus spp.), Trám (Canarium album), Ngát (Gironniera subaequalis), Chẹo (Engelhartia roxburghiana)…
Tầng cây bụi cao 4- 5m khá rậm rạp.
-Đồi núi thấp Cao bằng-Lạng sơn-Quảng ninh (#14): Kiểu rừng vùng thấp dưới 700m với nhiều loài cây gỗ có giá trị như Lim (Erythrophloeum fordii), Táu (Vatica tonkinensis), Sến mật (Madhuca pasquieri), Gụ (Sindora tonkinensis)...
-Đảo Đông Bắc bộ (Cát bà, Bạch long vĩ, #16): Kiểu rừng dưới 700 m trên các sườn núi và vách đá. Các loài cây gỗ thường gặp là Cọ hạ long (Livistona halongensis), Me nước (Dalbergia candenatensis), Sung hạ long (Ficus halongensis), Màng kiêng (Pterospermum truncatolobatum), Sảng cánh (Sterculia lanceolata)… Những loài cây bụi và dạng bụi thường là Thiên tuế hạ long (Cycas trophophylla), Phất dụ núi (Dracaena cambodiana), Dứa dại (Pandanus odoratissima)… mọc thành từng đám thuần loại.
1.3 Khu vực Bắc Trung Bộ, có kiểu rừng vùng thấp dưới 700m và rừng vùng đồi, núi thấp và trung bình 500-1500m với đa dạng sinh học khá cao như ở các VQG Pù Mát, Vũ Quang, Phong Nha K Bàng.
Các loài cây phần lớn là thường xanh có xen lẫn một số loài cây rụng lá, không có tầng vượt tán rõ rệt, cây có bạnh vè lớn. Tầng cây bụi thấp nhiều cây thuộc họ Cọ dừa (Arecaceae), họ phụ Tre (Bambusoidae). Dây leo thân gỗ và thực vật phụ sinh có nhiều. Ở cao độ dưới 300 m, ưu thế là Lim xanh (Erythrophoeum fordii Olive) từ đèo Ngang trở ra và ưu thế Gõ-Huỷnh (Sindora cochinchinensis- Heritiera javanica) từ đèo Ngang trở vào. Ở cao độ 300-700 m có ưu thế Sến-Táu (Madhuca pasquieri- Hopea mollissima). Vùng núi có ưu thế Dẻ (Castanopsis spp)…
-Núi Tây Thanh-Nghệ-Tĩnh (#20): Trên tiểu vùng này đã biết được ít nhất 2500 loài thực vật bậc cao có mạch. Khu vực có tính đa dạng thực vật giàu có nhất là tại Vườn quốc gia Pù Mát, nơi đây đã thống kê được 2.461 loài thực vật bậc cao có mạch, trong số đó có một số loài mới cho khoa học.
Kiểu rừng này ưu thế với các loài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) như các loài chi Sao và Dầu; họ Dẻ (Fagaceae) như Sồi, Dẻ các loài Castanopsis; họ Long não (Lauraceae) như Quế và Màng tang.
Trên các đai cao hơn, rừng thường xanh trên núi thấp bắt đầu xuất hiện. Dưới 1.500m, kiểu rừng này có ưu thế các loài họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae) và họ Sim (Myrtaceae), tuy vậy vẫn thấy một vài loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) xuất hiện. Trữ lượng 200 m3/ha. Vùng cao độ trên 1500m, cây họ Dầu không xuất hiện, thảm thực vật đặc trưng bởi các loài hạt trần Sa-mu dầu (Cunninghamia konishii), Pơ-mu (Fokienia hodginsii) và Kim giao (Decussocarpus wallichianus).
-Gò đồi Bắc Trung bộ (#21): kiểu rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm vùng thấp dưới 700m, tuy nhiên trạng thái rừng nguyên thuỷ của kiểu này không còn nhiều. Nhưng cũng có một số khu rừng tự nhiên còn tốt như Rừng Lim-Sến Thanh Hoá, rừng Gõ- Huỷnh ở Vĩnh Linh, Quảng trị.
-Đồng bằng và cát ven biển Bắc Trung bộ (#22): kiểu rừng vùng thấp <700m, đa phần là các Rú được tạo thành bởi các loài cây gỗ thấp, có kích thước trung bình, phân cành thấp, thường có bộ lá cứng. Thành phần có các loài thuộc các họ Sim (Myrtaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Bứa (Clusiaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và một số loài cây thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Dẻ (Fagceae), họ Mùng quân (Flacourtiaceae)… Các thực vật ưu thế thường gặp trên vùng cát có Mộc hương (Xylosma controversum)-Trâm bù (Syzygium chalos); nhiều loài Dẻ, Thành ngạnh (Cratoxylon prunifolium); Táu duyên hải (Vatica obtusifolia);Tràm (Melaleuca cajeputi).
-Khối núi Tây Bình Trị Thiên (#24):
+Kiểu rừng vùng thấp dưới 700m có đặc trưng khu hệ thực vật bản địa đặc hữu Bắc Việt Nam-Nam Trung Hoa, với sự có mặt của các họ Long não (Lauraceae); họ Dâu tằm (Moraceae); họ Dẻ (Fagaceae); họ Đậu (Fabaceae); họ Thị (Ebenaceae); họ Mộc lan (Magnoliaceae); họ Trôm (Sterculiaceae); họ Xoan (Meliaceae); họ Bồ hòn (Sapindaceae); họ Hồng xiêm (Sapotaceae); họ Măng cụt (Clusiaceae); họ Hoàng đàn (Cupressaceae)…Khu vực này là nơi hội tụ của 3 luồng thực vật di cư lớn, nên cũng có nhiều yếu tố của những hệ thực vật này. Kiểu rừng này gặp nhiều ở Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông (Quảng trị).
+Kiểu rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm đồi, núi thấp và trung bình từ độ cao 700m đến 1500m và nằm trên các dãy núi dọc theo dãy Trường Sơn. Đây là kiểu rừng còn ít bị tác động, giữ được ít nhiều tính chất nguyên sinh. Các hệ sinh thái rừng kiểu này gặp chủ yếu ở khu vực giáp với Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá); Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông; một khu nhỏ ở huyện A Lưới (Thừa Thiên), và khu tiếp giáp của tỉnh Thừa Thiên với Quảng Nam.
1.4. Khu vực Nam Trung Bộ: rừng thường xanh đồi núi thấp và trung bình, hiện diện ở:
-Núi Tây Quảng nam-Quảng ngãi (#25): Kiểu rừng thường xanh hiện diện ở đồi, núi thấp và trung bình (cao trên 700m) với nhiều trạng thái khác nhau, kể cả trạng thái nguyên thuỷ. Các kết quả nghiên cứu cho thấy (liệt kê theo Trung tâm Dữ liêu Thực vật VN, vùng Bà nà) trên lãnh thổ tiểu vùng núi phía Tây Quảng Nam-Quảng Ngãi có ít nhất 731 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 130 họ của 5 ngành thực vật bậc cao là: ngành Thông đất (Lycopodiophyta), ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta), ngành Dương xĩ (Polypodiophyta), ngành Thông (Pinophyta) và ngành Mộc lan (Magnoliophyta). Đây là khu vực rừng chưa bị tác động mạnh của con người.
|