PHẦN 9 (Phần cuối)
Khu vực Tây Nam Bộ:
-Đồng bằng Nam bộ (#45): dưới tán rừng Tràm là: Sậy (Phragmites vallatoria) và một số loài thuộc chi Năn (Năng) (Eleocharis spp.). Thảm thực vật thân thảo, là những thảm cỏ ngập nước theo mùa hay ngập nước thường xuyên có thuộc 1 trong 4 nhóm:
+thảm cỏ trong những vùng đất ngập nước ngọt sâu và kéo dài thường có các loài Năn (Eleocharis dulcis), Lúa ma (Oryza rufipogon) và Sậy.
+thảm cỏ trên đất phèn nặng, ngập sâu theo mùa, có các loài Năn (E. dulcis), (E. ochrostachya), Cỏ mồm (Ischaemum rugosum) vàBàng (Lepironia articulata).
+thảm cỏ trên đất cát hoặc phù sa cổ, ngập ngắn ngày, với ưu thế thuộc về các loài Tinh thảo (Eragrostis atrovirens), Cỏ sâu (Setaria vỉidis), Ký vĩ (Mnesithea laevis).
+thảm cỏ nước lợ với ưu thế thuộc về các loài San sát (Paspalum vaginatum), Hến biển (Scirpus littoralis), Còng còng (Zoysia matrella), Năn ngọt (Eleocharis dulcis), Năn xoắn (E. spiralis).
-Hải đảo Tây Nam bộ (#47): rừng Tràm ở đây phân bố ở 3 dạng địa hình: ở những vùng đất trũng ngập nước thường xuyên, Tràm mọc dày nhưng có kích thước nhỏ; trên vùng đất phù sa cát pha sét ngập nước vào mùa mưa, Tràm mọc chung với các loài cỏ chịu hạn và có kích thước lớn; trên giồng cát cố định không bị ngập, Tràm mọc chung với các loài cây khác và có kích thước nhỏ.
Vài sinh cảnh Rừng Tràm
.8. Kiểu Rừng Tre
8.1. Sinh thái Rừng Tre
Tre là tên gọi chung cho các loài thực vật thuộc họ phụ Tre (Bambusoidae), họ Hoà bản (Poaceae). Tre có phân bố rộng từ vùng nhiệt đới, á nhiệt đới đến ôn đới, từ 51⁰ vĩ độ bắc đến 47⁰ vĩ độ nam. Hầu hết các loài tre đều cần nhiệt độ ấm và ẩm nên chúng thường phân bố ở vùng thấp và cao trung bình và tập trung ở 2 bên xích đạo. Trên thế giới có khoảng 1300 loài tre, thuộc hơn 70 chi, trong đó vùng Châu Á Thái Bình Dương là trung tâm phân bố tre chiếm khoảng 80% tổng số loài và diện tích toàn thế giới (Lin, 2000).
Việt Nam là một trong những trung tâm phân bố tre trên thế giới do có điều kiện nhiệt, ẩm và thổ nhưỡng thuận lợi. Các hệ sinh thái rừng tre Việt nam rất phong phú và đa dạng, quan trọng trong tài nguyên rừng về các mặt kinh tế, môi trường và khoa học.
Hiện tại các nhà thực vật thống kê được tre Việt Nam có khoảng 250 loài thuộc 25 chi. Kiểm kê tài nguyên rừng năm 2007 ghi nhận rừng tre có diện tích khoảng 1.5 triệu ha. Rừng tre tự nhiên chiếm 10.5% diện tích rừng tự nhiên, trong đó rừng tre thuần loại 0.89 triệu ha, và rừng hỗn loại 0.63 triệu ha. Tre mọc ở khắp nước, những vùng có diện tích và trữ lượng nhiều là:
-Đông Bắc: 323 ngàn ha, với các chi chính: Bambusa, Dendrocalamus, Indosasa, Lingnania,Neohouzeana, Phyllostachys, Sinocalamus.
-Tây Bắc: 108 ngàn ha, với các chi Bambusa, Dendrocalamus, Indosasa, Neohouzeana, Phyllostachys.
-Đồng bằng Sông Hồng: 91 ngàn ha, có các chi Bambusa, Dendrocalamus.
-Bắc Trung Bộ: 323 ngàn ha, với các chi giống vùng Đông Bắc và thêm 2 chi Oxytenanthera, Schizostachyum.
-Tây Nguyên: 334 ngàn ha, với các chi Bambusa, Neohouzeana, Oxytenanthera, Schizostachyum.
-Duyên hải NamTrung bộ: 30 ngàn ha, có Bambusa, Oxytenanthera, Schizostachyum.
-Đông Nam Bộ: 370 ngàn ha, với các chi Bambusa, Dendrocalamus, Neohouzeana, Oxytenanthera, Schizostachyum, Sinocalamus.
Rừng tre tự nhiên là rừng hậu lập. Rừng tự nhiên sau khai thác hay làm rẫy, nếu điều kiện thổ nhưỡng và độ ẩm thuận lợi sẽ hình thành rừng tre thuần loài hay rừng hỗn hợp cây gỗ và tre.
Dựa vào kiểu mọc có thể chia tre thành 3 kiểu:
(1) (2) (3) (4)
- Kiểu mọc chụm hay hợp trục (1): thân khí sinh mọc thành khóm, phần thân ngầm hình bầu dục, chia làm nhiều đốt, mỗi đốt là chồi thành măng; có dạng củ là phần gốc của thân khí sinh. Như: tre gai, nứa, lồ ô…
- Kiểu mọc cách (mọc tản) hay đơn trục (4): thân khí sinh mọc từng cây, thân ngầm có dạng roi, nhỏ, có đốt, bò lan trong đất. Mỗi đốt có 2 mắt, một mắt thành thân khí sinh, một mắt thành thân ngầm bò lan. Như: vầu, trúc sào,..
- Kiểu mọc hỗn hợp, bao gồm 2 kiểu phụ:
+Kiểu phụ mọc cách hỗn hợp (2): thân khí sinh mọc thành khóm nhỏ và đơn, liên kết với nhau bằng thân ngầm dạng roi, thân ngầm dạng củ và dạng roi hỗn hợp.
+Kiểu phụ mọc chụm hỗn hợp (3): thân khí sinh mọc chụm thành khóm nhỏ, các khóm liên kết với nhau bằng thân ngầm dạng củ dài, thân ngầm dạng củ ngắn và dài hỗn hợp.
Tre có khả năng tái sinh mạnh bằng thân ngầm, các loài cây lá rộng khó thể cạnh tranh nổi. Do vậy, hệ sinh thái rừng tre ổn định trong thời gian tương đối lâu dài. Rừng tre bị thay sang một loại rừng khác thường chỉ xẩy ra khi tre bị khuy, tức là cây tre ra hoa kết quả và sau đó chết đồng loạt.
Vài loài tre tiêu biểu:
8.2. Các phân vùng sinh thái có kiểu Rừng Tre
Khu vực Tây Bắc
-Khối núi Hoàng Liên Sơn (#5): rừng hỗn loài cây gỗ và tre có nguồn gốc thứ sinh từ kiểu rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm vùng đồi, núi thấp và trung bình 500-1500m, đại diện là các loài trúc nhỏ thuộc các chi Tiểu trúc (Arundinaria) và Trúc (Phyllostachys) chiều cao dưới 2m.
-Gò đồi Hoà bình-Ninh bình (#6): rừng tre và hỗn loài cây gỗ + tre, là kết quả của quá trình suy thoái mạnh ở những nơi có khí hậu khô hạn hơn về mùa khô. Tầng ưu thế được tạo thành bởi các loài Tre (Bambusa spp.), Mạy sang (Dendrocalamus sericeus), Vầu đắng (Indosasa amabilis), Vầu lá mập (I. crassiflora), Giang (Ampelocalamus patellaris), Nứa (Neohouzeana dulloa)... mọc cùng Ngát (G. subaequalis), Dẻ gai (Castanopsis indica), Thành ngạnh (Cratoxylon spp.), Chẹo (Engelhardtia spp.), Nhựa ruồi (Ilex spp.)…
Khu vực Đông Bắc
-Thung lũng sông Hồng-sông Chảy (#7): rừng tre và hỗn loài cây gỗ + tre ưu thế là Luồng (Dendrocalamus membraceus), Mạy sang (D. sericeus), Tre mỡ (Bambusa vulgaris), Giang (Ampelocalamus patellaris), Tre sóc (Arundinaria spp.), Nứa (Neozheana dulloa), Vầu đắng (I. amabilis), Vầu lá mập (I. crassiflora)... mọc cùng một số loài cây gỗ tiên phong mọc rãi rác như Dẻ gai (Castanopsis indica), Sồi đá (Lithocarpus corneus), Ngát (Gironniera subaequalis), Bùng bục (Mallotus barbatus), Cánh kiến (Mallotus philipinensis), Ba soi (Macanga denticulata), Màng tang (Litsea cubeba)...
-Trung du (#12): rừng tre và hỗn loài cây gỗ + tre; với thành phần chính là nứa, giang, vầu, tre gai, sặt…xen kẽ với các loài cây gỗ Nến (Macaranga denticulata), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Ràng ràng (Ormosia balansae), Chẹo (Engelhartia roxburghiana), Hu đay (Trema orientalis), Dẻ gai (Castanopsis spp.), Ngát (Gironniera subaequalis), Re (Cinnamomum spp.), Kháo (Machilus spp.), Bứa (Garcinia boni), Tai chua (Garcinia cowa), Sau sau (Liquidambar formosana)…
-Đồi núi thấp Cao bằng-Lạng sơn-Quảng ninh (#14): rừng tre và hỗn loài cây gỗ + tre, phát triển rộng trong vùng này là kết quả của suy thoái kiểu rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm.
Khu vực Bắc Trung Bộ
-Khối núi Tây Thanh Nghệ Tĩnh (#20): kiểu rừng tre và hỗn giao cây gỗ + tre là kết quả của suy thoái rừng.
-Khối núi Tây Bình Trị Thiên (#24): rừng tre và hỗn loài cây gỗ + tre hình thành sau nương rẫy và khai thác kiệt có nguồn gốc từ rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm vùng thấp dưới 700m
Khu vực Nam Trung Bộ, Tây nguyên và Đông Nam Bộ
-Vùng gò đồi Nam Trung bộ (#26): rừng tre và hỗn loài cây gỗ + tre nứa, hình thành sau khai thác trắng, bị cháy hoặc sau nương rẫy bỏ hoang. Thường là các thảm rừng Le với các loài chủ yếu là: Le núi đinh (Oxytenanthera dinhensis), Le khánh hòa (O. hosseusii), Le poilan (O.poilanei). Ngoài ra còn gặp các loài tre nứa khác như Tre gai (Bambusa agrestis/arundinacea), Tre là ngà (B. blumeana), Tre ngay (B. lineate), Tre poilan (Dendrocalamus poilanei), Mậy sang (D. sericeus/sinuate), Tre nam bộ (Gigantochloa cochinchinensis), Tre bà bộ (G. multicaulis), Giang đặc (Melocalamus compactiflorus), Nứa tai/Lồ ô (Schizostachyum zollingeri)... cùng mọc hỗn giao là các loài cây gỗ như Bằng lăng (Lagestroemia calyculata /angustifolia), Bằng lăng cuống (L. petiolaris), Căm xe (Xylia xylocarpa/dolabriformis), Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus), Bình linh lông (Vitex pinnata), Ràng ràng (Ormosia spp.).
-Núi thấp Sa thầy (#31): kiểu rừng tre và hỗn loài cây gỗ + tre là do thoái hóa từ kiểu rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm vùng thấp do tác động của con người.
-Khối núi M’Drak (#36): rừng tre và hỗn loài cây gỗ + tre phục hồi sau nương rẫy và khai thác kiệt thành phần chủ yếu là loài Le (Pseudoxytenanthera nigrociliata, P. hosseusii), Lồ ô (Bambusa procera), Nứa (Neohouzeana dulloa) và rải rác cây lá rộng còn sót lại như các loài Dẻ (Quercus, Lithocarpus, Castanopsis), Vạng trứng (Endospermun chinense), Lim xẹt (Piterocellobium clyapea), Li thọ (Gnema ), Trám (Canarium sinense), Ngát (Gironniera subaequalis)…
-Khối núi Chư Yang Sin, cao nguyên Đà lạt (#38): rừng thứ sinh tre trong vùng cũng phát triển khá rộng với hai loài ưu thế là Le (Oxytenanthera nigrociliata) và Lồ ô (Bambusa procera).
-Núi thấp Bình phước-Đồng nai (#40): Lồ ô phân bố khá rộng ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, nhưng tập trung nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, nhất là tỉnh Bình Phước. Ở Phước Long, rừng lồ ô chiếm 40% diện tích tự nhiên toàn huyện.
.3. Vài sinh cảnh kiểu Rừng Tre
E. Dự Phóng Tương Lai Rừng
Vùng Đông Nam Á và Việt Nam
Rừng nhiệt đới toàn cầu chỉ chiếm 7% đất liền nhưng là trú khu của 2/3 số loài thực- động vật trong đa dạng sinh học. Rừng nhiệt đới có vai trò quyết định trong cân bằng carbon, kềm giữ biến đổi khí hậu và chiến lược thích ứng sinh thái, vì chúng trữ đến 228.7 Pg C (petagram, 10¹⁵ g) trong thực vật thân gỗ, chiếm 68% trữ lương C sinh học toàn cầu. Rừngkhu vực ĐNA chiếm khoảng 15% rừng nhiệt đới trên thế giới, có vai trò lớn trong bảo tồn đa dạng sinh học và cân bằng carbon toàn cầu. Nhưng khu vực này đang đối mặt với nạn lậu thác, lạm thác và phá rừng trầm trọng cho nhu cầu nông nghiệp và kỹ nghệ. Thống kê trong khoảng 1990-2010 cho thấy rừng ĐNA mất khoảng 0.6% mỗi năm hay 1.6 triệu ha hằng năm.Tình trạng mất rừng do hoạt động của con người đã góp thêm 1/10 -1/6 lượng C khí thải vào bầu khí quyển. Với tốc độ này và chính sách không đặt nặng việc bảo vệ tài nguyên rừng của các quốc gia trong vùng, ước tính đến năm 2100, đa dạng sinh học sẽ mất 40% số loài hiện hữu, dù cho có biện pháp bảo vệ các trữ khu, phục hồi tự nhiên, và trồng lại rừng,
Một số nhà nghiên cứu kinh tế lâm nghiệp thuộc Viện Nghiên Cứu Môi Trường Nhật Bản, Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Môi Trường Toàn Cầu Nhật Bản, và Trung Tâm Phối Hợp Nghiên Cứu Châu Âu xem xét 5 dẫn lộ Chia sẻ Kinh tế-Xã hội (SSP) khả dĩ, để đưa ra dự đoán tương lai rừng của vùng đến năm 2050. Do tính phức tạp của hoạt động con người, của việc phát triển dân số và nhu cầu thay đổi lối sống, của tiến bộ kỹ thuật, của chính sách sử dụng đất… việc khẳng định chỉ một hướng cho tương lai là không thực tiễn, vì vậy việc đưa ra nhiều kết cục dựa trên nhiều tình huống là cách tiếp cận hợp lý trong dự đoán.
Tính chất 5 dẫn lộ, tổng quát như sau:
-SSP1: con đường dựa trên sự bền vững sinh thái khi theo con đường thực thi “xanh”, giữ hiện trạng, đầu tư vào giáo dục, nhân lực, ý thức. Con đường này đưa đến sự nâng cao mức che phủ và chất lượng cho rừng cho vùng ĐNA.
.-SSP2: con đường trung gian.
- SSP3: con đường ít quan tâm đến tình trạng thiên nhiên dễ bị tổn thương của rừng, để thiên nhiên tự điều chỉnh, không coi trọng những khuyến nghị của các tổ chức khoa học, không đầu tư thích ứng phục hồi, không quan tâm nhiều đến công tác giáo dục nhận thức cho quần chúng. Con đường này dễ thấy sẽ đưa đến sự giảm sút mức che phủ mạnh nhất.
-SSP4: con đường không đồng bộ giữa các nước trong vùng. Có vẻ đây là tình trạng thực tế khảo sát năm 2015, khi bắt đầu cuộc nghiên cứu. Có lẽ đại thể cũng là tình trạng hiện tại (2025), dù ít nhiều đã có sự hợp tác của các nước trong vùng.
-SSP5: con đường sử dụng rừng như một nguồn chất đốt cung cấp năng lượng chính yếu (nguồn năng lượng gây ô nhiễm).
Các dữ liệu thu thập từ 2005 đến 2015 cho thấy vùng ĐNA đã mất 80 triệu ha rừng, hay tốc độ mất rừng là 8 triệu ha mỗi năm. Indonesia là nước có diện tích mất rừng cao nhất khu vực, chiếm 62%, kế đến là Malaysia 16.6%, Miến điện chiếm 5.3%, Kampuchia chiếm 5%. Khu vực ĐNA trong 10 năm đã mất 998 Tg C (đơn vị Teragram, 10¹² gram, hay một triệu tấn) AFCS (Aboveground Forest Carbon Stock, có thể hiểu như sinh khối trên mặt đất của rừng). Indonesia chiếm 62.1% tổng lượng mất, Malaysia 17.4%, Kampuchia 5.3%, Mién Điện 4.6%.
Các nhà kinh tế lâm nghiệp đã đưa dự phóng vào năm 2050, tình huống SSP 3 (tệ hại), có 5,2 triệu ha rừng biến mất, AFCS giảm 790 Tg C, 21% trong số này là mất mát từ rừng nguyên sinh. Nhưng trong tình huống SSP 1, khu vực sẽ tăng thêm 19.6 triệu ha rừng và cố định được 1651 Tg AFCS. Sự chọn lựa dẫn lộ để theo là them chốt cho tương lai của rừng trong khu vực, cho sự phát triển bền vững và chức năng phục vụ của hệ sinh thái.
Trong khu vực ĐNA, rừng nguyên thuỷ vẫn còn chiếm 35% diện tích đất rừng, nhiều nhất là Indonesisa, 83% và Malaysia, 15%. Việt Nam con số này chỉ khoảng dưới 8%. Khoảng 38% rừng khu vực được coi là rừng thứ sinh già và non, có thể sinh lợi về mặt kinh tế.


Trên lãnh thổ Việt Nam, năm 1995 kiểm kê rừng cho thấy mức độ che phủ của rừng xuống thấp nhất chỉ còn 22.8% với khoảng 8 triệu ha trên toàn quốc, 6.96 triệu rừng tự nhiên và 1.05 triệu rừng trồng. Trong hai thập niên tiếp sau, chính sách quản trị lâm nghiệp hợp lý, có cân phân giữa lợi ích kinh tế và khoa học môi trường, có cải thiện tích cực bằng những biện pháp dưỡng lâm, bảo vệ rừng, tạo thuận lợi cho sự phục hồi và tái sinh rừng, cộng với sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế, đến năm 2022 tỉ lệ che phủ rừng đã tăng lên đến 42%, nhưng phân bố không đồng đều, gần bẳng tỉ lệ rừng khoảng đầu thế kỷ XX là 43%, với tổng diện tích 14.7 triệu ha với 10.1 triệu ha rừng tự nhiên và 4.6 triệu ha rừng trồng (đã khép tán và chưa khép tán, nhưng đạt tiêu chí để được xếp loại là rừng). Hiện tại đa số là rừng thứ sinh trung bình, nghèo. Rừng được coi là giàu chỉ chiếm 5%.
Rừng nguyên thuỷ còn nguyên vẹn chỉ khoảng 0.5%. Sự phục hồi độ che phủ nhanh chóng là một thành tựu của ngành Lâm nghiệp Việt Nam, được thế giới ghi nhận và tuyên dương. Cũng cần biết thêm là tình trạng khai thác trộm lâm sản quý hiếm thuộc loại cấm khai thác, khai thác lạm dụng vẫn còn xảy ra. Xin trích một nhận định của Bái cáo Điều tra, Theo dõi, Đánh giá Tài nguyên Rừng năm 2022: “Diện tích hệ sinh thái rừng tự nhiên trên khắp cả nước bị suy giảm một cách nghiêm trọng. Trong đó, theo như con số thống kê còn cho biết độ che phủ rừng chỉ còn nằm trong con số 42%. “Diện tích hệ sinh thái rừng nguyên sinh còn khoảng 10%. Theo số liệu Báo cáo Chương trình điều tra, theo dõi và đánh giá tài nguyên rừng toàn quốc (NFIMAP) chu kì III. Hơn 2/3 diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam được coi là rừng nghèo. Tốc độ mất rừng ở Việt Nam là 200.000 ha/năm, trong đó 60.000 ha do khai hoang, 50.000 ha do cháy và 90.000 ha do khai thác gỗ quá mức.”Tương lai tài nguyên rừng Việt Nam năm 2050 phải chăng sẽ nằm trong tình huống xấu SSP2-SSP 3?
Kiểu rừng tiêu biểu của Việt Nam lả Rừng ẩm nhiệt đới lá rộng thường xanh. Việt Nam đã thiết lập 181 khu bảo tồn thiên nhiên, trên đất liền (94%) và vùng biển (6%), với tổng diện tích 2.64 triệu ha. Các khu bảo tồn thiên nhiên gồm có 34 quốc gia lâm viên (như Cúc Phương, Cát Bà, Phong Nha, Bạch Mã, Cát Tiên, Tràm Chim…), 60 khu dự trữ thiên nhiên, 22 khu bảo tồn loài/sinh cảnh, 65 khu bảo tồn cảnh quan. Ngoài ra còn có 9 khu thực nghiệm khoa học, và 11 khu dự trữ sinh quyển trong hệ thống 700 khu DTSQ thế giới do UNESCO thành lập (như Cát Bà, Tây Nghệ An, Cù Lao Chàm, Langbiang, Kông Hà Nừng, Cần Giờ, Mũi Cà Mau…).
F. Vai trò của Rừng
Giáo sư Thái Công Tụng trong một bài viết giới thiệu các quần hệ thực vật trên thế giới có đưa ra nhận định: Nếu có ai hỏi hãy tìm chỉ một cá thể duy nhất vừa bảo đảm đất giàu, vừa điều hòa được nước và lụt, vừa phát sinh hơi nước, vừa tồn trữ cacbon, vừa thanh lọc không khí, vừa điều hòa nhiệt độ, vừa chứa động vật và thực vật, vừa làm đẹp cảnh quan, thì chắc hẳn câu trả lời đó là một cây và cây lại là một phần của rừng.
Trong thế giới ngày nay, dù với những tiến bộ vượt bực về kỹ thuật, công nghệ và khoa học, rừng vẫn còn giữ những vai trò cốt yếu cho sự tiến hoá của vạn vật; và rừng vẫn là thiết yếu cho sự sinh tồn, và văn minh của loài người trong một tương lai rất dài. Giống như rừng toàn thế giới, vai trò của rừng Việt Nam có thể kê ra tóm lược như sau:
•Rừng là nơi cư trú cho sinh vật: Rừng không chỉ đơn giản là tập hợp đa dạng những cây lớn nhỏ khác nhau, cùng sinh sống hài hoà trên một khu vực, mà còn là nơi chốn cư trú cho vô số sinh vật khác, từ vi sinh vật, rêu, nấm, côn trùng, chim thú cho tới con người. Đa số sinh vật phụ thuộc chặc chẽ và có thể không sống được ở môi trường khác ngoài môi trường rừng. Do đó sự thay đổi môi trường rừng sẽ kéo theo khả năng tồn tại của nhiều loài sinh vật.
•Rừng là nguồn tài nguyên: Gỗ là sản phẩm quan trọng nhất từ rừng, cung cấp gỗ xây dựng, gỗ kỷ nghệ giấy và ván ép, ván, củi đốt…Các sản phẩm ngoài gỗ (thường gọi là sản phẩm phụ, sản phẩm thứ cấp, đặc sản rừng…) có thể kể nấm, hoa trái, dương xỉ, than bùn, nhựa thông, nhựa ngọt, mật ong, thuốc trị bệnh…
•Rừng và nhu cầu tinh thần: Rừng cung cấp nơi chốn hoạt động dã ngoại (trong nước gọi là đi phượt, du lịch sinh thái…), giúp con người sống lành mạnh, năng động hơn về thể chất, tinh thần, và tâm linh. Hoà vào thiên nhiên hùng vĩ, kỳ diệu giúp con người ý thức cuộc sống cao hơn, gìn giữ môi sinh chủ động hơn.
•Rừng và biến đổi khí hậu: Rừng có 4 vai trò trong biến đổi khí hậu:
-Khoảng 1/6 lượng khí CO₂ thải vào khí quyển là từ rừng do những hoạt động đốt rừng, cháy rừng, lạm thác gây thoái hoá rừng...Carbon cố định trong cây bị trả về khí quyển dưới dạng CO₂.
-Rừng là nguồn cung cấp O₂ cho khí quyển qua tiến trình quang hợp, chỉ sau đại dương. Rừng rất nhạy cảm đối với biến đổi khí hậu. Hiện nay, có một số nghiên cứu đặt nhẹ vai trò “lá phổi”của rừng, thậm chí phủ nhận. Theo họ các quan trắc cho thấy sự hô hấp nơi thực vật tiêu thụ hầu như trọn vẹn lượng oxy thải vào không khí trong tiến trình quang hợp. Tuy nhiên một kết quả thuyết phục vẫn chưa rõ ràng.
-Khi được quản trị bền vững, củi đốt sẽ là một nguồn năng lượng gây ô nhiễm ít hơn dầu hoả.
-Theo ước tính của các nhà khoa học, rừng cố định 1/10 lượng khí thải CO₂ do hoạt động của loài người trong sinh khối rừng, ở thế kỷ 21. Rừng ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu do cố định được carbon lâu dài. Khi tăng trưởng rừng giữ carbon trong gỗ, lá, rễ. Cùng với đại dương, rừng là “bồn chứa” carbon. Định lượng được vai trò của rừng trong chu trình carbon toàn cầu sẽ giúp tăng sự hiểu biết và do đó cải đổi biến đổi khí hậu hữu hiệu hơn.
•Những vai trò sinh thái khác của rừng:
-Chuyển biến đá vô sinh thành những hệ sinh thái qua hàng ngàn năm chinh phục, với những loài thực vật tiên phong phủ xanh đất đá trơ. Tiếp theo sau sẽ là những loài cây khác và động vật định cư. Sự khai thác tài nguyên có tính toán thường không làm hại hệ sinh thái, nhưng khai thác bừa bãi chắc chắn dẫn đến sự huỷ hoại rừng.
-Rừng tạo nên đất cho nông nghiệp qua việc phân huỷ đá và tích trữ hữu cơ với xác hữu cơ của cây cỏ, động vật, vi khuẩn đất. Đất trên thế giới đều có nguồn gốc từ rừng. Rừng còn giúp cải thiện đất xấu, nghèo, thoái hoá…
-Rừng tạo đất sâu, giải thoát khoáng chất với hệ rễ. Lớp phủ bề mặt bảo vệ đất, không có lớp thực vật rừng che phủ, đất sẽ trở nên cứng và vô sinh. Mưa lớn sẽ cuốn trôi đất mặt không cây, gây ô nhiễm sông suối.
-Rừng chắn gió bão. Gió lớn dễ làm khô đất và ảnh hưởng bất lợi cho hoa màu. Gần biển, gió lớn có thể đưa muối vào sâu trong nội địa làm đất kém phì nhiêu. Rừng còn bảo vệ làng mạc.
-Rừng trữ nước trong đất từ những cơn mưa. Mùa khô hạn nhờ vậy, cây cối có đủ nhu cầu nước. Rừng điều hoà dòng chảy trên mặt.
-Rừng giúp tạo mây và mưa do hiện tượng thoát nước từ cây vào khí quyển. Rừng phả nhiệt nhận được từ mặt trời vào không khí, làm khối khí bốc cao (do nhẹ) và không khí gặp luồng khí lạnh trên cao sẽ tạo thành mây và mưa.
-Rừng làm giảm lửa hoang đáng kể. Nơi không rừng, lửa hoang thường hoành hành mùa khô, gây thiệt hại sinh mạng và vật chất nhiều khi rất lớn.
Với những người yêu thiên nhiên, rừng không phải chỉ là nơi chốn đẹp để du ngoạn, Rừng là Nhà. Họ học sự kiên cường, mạnh mẽ, bản lãnh từ cây, học giá trị cuộc sống từ rễ, từ trái hạt, học thích ứng với đổi thay từ lá.
Tài liệu tham khảo chính
Ngoài hai báo cáo đề cập ở phần mở đầu, bài viết có tham khảo những tài liệu sau đây:
•Phạm Hoàng Hộ, Cây Cỏ Việt Nam, các quyển 1, 2 và 3.
Ấn bản 1999, Nhà Xuất bản Trẻ.
•Tuyển tập các bài viết của GS Phùng Trung Ngân. Sách không phát hành, dành cho thân hữu, do gia đình sưu tập. Năm 2013.
•Tuyển tập Thái Công Tụng. Bản điện tử, 2018.
• Arman Takhtajan, Flowering Plants, 2009. Springer
• Simmathiri Appanah, Jennifer Turbul, Dipterocarps, 1998, Forest Research Institute Malaysia.
• I.M. Turner, The Ecology of Trees in The Tropical Rain Forest, 2004, Cambridge University Press.
• Charles S. Hutchison, Geological Evolution of South-East Asia, 2007, Geological Society of Malaysia.
•Web Site “Trung tâm Dữ liệu Thực vật Việt nam”.
• FAO, The State of The World Forest, 2020&2024, www.fao.org
• Wikipedia, Bách Khoa Toàn Thư Mở
•Sử dụng các Search Engines Google và Safari.
• Hình ảnh sưu tập trên Net qua Google, Pinterest, và Wikipedia. Có đốichiếu với các nguồn của Viện Kew Gardens và Plant List.
Cũng xin được đề cập tới một từ ngữ ít/không phổ biến nhưng được dùng chính thức trong nước. Để gọi kiểu rừng khô thưa họ Dầu rụng lá theo mùa, trong nước dùng chữ Rừng Khộp. Từ nguyên được cho là do từ quân đội khi trú đóng trong kiểu rừng này, đi trên lá khô nghe “khộp khoạp” nên thành tên. Google AI cho biết Khộp là tiếng Lào, có nghĩa là Nghèo (?), nhưng theo thiển ý rừng khộp không tập trung ở Nam Lào mà ở vùng Kontum-Pleiku-Daklak giáp Kampuchia, nên cần xem lại cách giảng này. Theo thiển ý, từ ngữ khộp dùng chỉ kiểu rừng có thể xuất phát từ tiếng Rhade, KI-ƠP, có nghĩa là CÂY. Xin ghi lại để tồn nghi.