Rừng Đông Nam Á. Phần 8
KS Nguyễn Lương Duyên
Hình
69E
• Khu vực Tây nguyên
-Núi thấp An khê (#33): Có kiểu rừng thưa, khô lá rộng rụng lá theo mùa, ưu thế họ Dầu (khộp) và kiểu rừng hỗn loài nửa rụng lá là kiểu rừng chuyển tiếp giữa rừng kín thường xanh ẩm vùng thấp và rừng khộp.
-Bán bình nguyên Cheo reo- Phú bổn- Ea sup (#34): Kiểu rừng khộp với ưu thế các loài họ Dầu thích nghi khí hậu khô như: Dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius) Dầu đồng (D. tuberculatus), Cà chít (Shorea roxburghii), Cẩm liên (S. siamensis) và một số loài họ Bàng như Chiêu liêu đen (Terminalia triptera) , Chiêu liêu ổi (T. corticosa). Rừng có cấu trúc đơn giản 1-2 tầng cây gỗ, mật độ thưa. Trữ lượng bình 40-80m3/ha. Đây là kiểu rừng khộp có diện tích rộng nhất Tây nguyên.
Bên cạnh còn có kiểu rừng chuyển tiếp (hành lang) dọc các sông suối lớn với thành phần ưu thế là các loài Săng lẻ (Lagestroemea spp.), Gõ đỏ (Sindora cochinchinensis), Giáng hương (Pterocarpus indicus).
Vài Sinh cảnh Rừng khộp
6 Kiểu rừng ngập mặn (Rừng Sác)
6.1. Sinh thái Rừng Sác
Hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bố dọc bờ biển Việt Nam. Theo Phan Nguyên Hồng (1999), Rừng Sác chia thành 4 vùng: ven biển Đông Bắc, ven biển đồng bằng Bắc Bộ, ven biển Trung Bộ (tới mũi Vũng tàu), và ven biển Nam bộ (đến mũi Nãi, Hà tiên). Phân vùng dựa trên địa lý ven biển.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bố sát ngay ven biển và chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: khí hậu, dòng nước, độ mặn, địa hình, sản phẩm bồi tụ.
•Ven biển Đông Bắc, là vùng khí hậu nhiệt đới có mùa đông lạnh, chịu ảnh hưởng trực tiếp gió mùa đông bắc. Biên độ nhiệt lớn, nhiệt độ thấp nhất có khi chỉ 1⁰C. Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến sinh trưởng mà còn ảnh hưởng đến thành phần loài cây rừng ngập mặn. Một số loài cây ngập mặn ở miền Nam không xuất hiện ở đây. Lượng mưa hàng năm cao 1.800 - 2.500 mm, thuận lợi cho các loài cây ngập mặn sinh trưởng. Thuỷ triều là nhật triều đều và lớn nhất trên toàn bờ biển Việt Nam. Mực nước triều đạt đến 4.5m, nên nước triều mặn vào sâu, do đó dải rừng ngập mặn phân bố sâu hơn. Độ mặn trung bình năm của nước biển hơi cao (2.6 – 2.8%). Ven biển Đông Bắc có nhiều đảo ngoài vịnh Hạ Long ngăn cản ảnh hưởng của bão và gió mùa Đông Bắc nên tác động của sóng biển bị giảm đáng kể, phù sa được cố định lại ở bờ biển thuận lợi cho các loài cây ngập mặn sinh trưởng phát triển.
Về đất thì trầm tích bãi biển nghèo, lớp bồi tụ mỏng, chủ yếu là cát nhỏ, pH 4 – 6, đất ít phốt pho, nhiều H₂S, nên rừng ngập mặn không rậm rạp.
Hệ thực vật cây chịu mặn: Điều kiện sinh thái trên làm cho hệ thực vật ngập mặn ở đây tương đối phong phú và có khả năng chịu mặn cao. Có loài chỉ phân bố ở ven biển Đông bắc mà không có ở các khu vực khác như chọ, hếp Hải nam, vẹt dù, trang là loài cây phổ biến ở đây nhưng lại rất ít thấy xuất hiện ở rừng ngập mặn Nam Bộ.
Nhiệt độ không khí thấp hạn chế sinh trưởng cây rừng ngập mặn và làm cho chúng có kích thước nhỏ hơn so với loài cây rừng ngập mặn ở Nam Bộ. Các cây có chiều cao chỉ khoảng 8-10m.
Về phía nam của vùng Đông bắc, tuy là khí hậu nhiệt đới có mùa đông lạnh nhưng nhiệt độ nước biển cao hơn so với phía bắc. Nhiều sông lớn thuộc hệ thống sông Thái bình và các kênh rạch đã đưa phù sa ra ngoài cửa sông tạo điều kiện cho các loài cây ngập mặn xuất hiện và phát triển. Độ mặn nước biển biến đổi theo mùa, mùa khô 2.0% mùa mưa từ 0.9 – 1.5%. Về đất, bồi tụ ở đây dày, nhiều bùn sét ít cát, thuận lợi cho rừng ngập mặn sinh trưởng phát triển và có kích thước lớn hơn.
•Ven biển đồng bằng Bắc Bộ: là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh nhưng nhiệt độ ở đây cao hơn do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc yếu hơn. Lượng mưa hàng năm từ 1.300 - 1.900 mm.
Đây là vùng bồi tụ và xói lở của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình thuộc vùng bờ biển đồng bằng Bắc Bộ. Do không có hệ thống đảo che chắn, lại nằm trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão gây mưa to và sóng lớn.
Trầm tích chủ yếu là bùn sét có hàm lượng phốt pho rất cao. Độ mặn biến đổi theo mùa, mùa khô 2% nhưng mùa mưa từ 0.9 – 1.5%.
Cây chỉ cao từ 5 - 10 m. Lấn biển hàng năm có thể đạt đến 80 - 120 m. Đất ngập mặn không có phèn tiềm tàng, bùn sét pha cát mịn.
•Ven biển Trung Bộ: tiếp giáp liền với dãy núi Trường Sơn. Trừ hai con sông lớn là sông Mã và sông Lam, còn các con sông khác đều ngắn, lượng phù sa ít không đủ để hình thành những bãi lầy ven biển, nhiều nơi núi tiếp cận ngay với bờ biển. Trường Sơn đông có độ dốc cao và ngắn nên dòng nước chảy mạnh lôi cuốn phù sa trôi ra biển. Có nơi đất liền còn bị biển lấn như Bình Thuận. Trầm tích bãi triều có hàm lượng phốt pho cao nhưng hàm lượng N lại thấp. Khu vực này cũng chịu ảnh hưởng của bão, gây ra mưa rất lớn, lũ lụt và nước biển dâng cao.
+ Từ Lạch Trường đến mũi Ròn, vùng này có hai con sông lớn là sông Mã và sông Lam. Các con sông khác ngắn, bề rộng hẹp, độ dốc cao. Chế độ nhật triều không đều, vẫn còn chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nhưng ít hơn phía bắc. Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của gió Lào khô nóng từ phía dãy Trường Sơn.
Quần thể bần chua chiếm ưu thế xuất hiện ở cửa sông, chiều cao trung bình từ 6 - 8 m. Tầng dưới là ô rô mọc lẫn với cói, sú, ráng, vạng hôi, mớp sát, giá…
+Từ mũi Ròn đến đèo Hải Vân, vùng này có các con sông chính như sông Gianh, sông Nhật Lệ, sông Hương. Nhìn chung, đây là những sông ngắn, lòng sông có độ dốc cao, nước sông chảy xiết. Dọc theo bờ biển là các cồn cát di động và cố định. Chế độ nhật triều không đều. Độ mặn của nước biển cao hơn có khi đến 3%. Chế độ nhiệt ở tiểu vùng này cao hơn phía bắc do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc yếu hơn và ở vĩ độ thấp hơn. Những tác động trên đây đã gây trở ngại cho việc hình thành rừng ngập mặn ven bờ biển, rừng ngập mặn thường chỉ xuất hiện ở bãi triều cửa sông.
Quần thể đâng, vẹt dù, vẹt khang mọc với trang, sú, ô rô v.v… nhưng chiều cao trung bình cũng chỉ đạt tới 6 - 8 m. Một số loài cây ngập mặn phân bố chủ yếu ở miền nam đã xuất hiện ở đây như : đưng, mắm trắng, bần ổi. Chúng chịu độ mặn cao trong mùa khô (2.9-3.5% ) do địa hình kín và lượng bốc hơi cao.
+Từ đèo Hải Vân đến mũi Vũng Tầu, bờ biển khúc khuỷu, có độ sâu lớn. Vùng này cũng có nhiều cồn cát chạy ra đến bờ biển. Chế độ nhiệt ở vùng này cao hơn miền Bắc. Lượng mưa phân bố không đều, có vùng lượng mưa thấp nhất Việt Nam như ở Phan Rang. Các con sông ở vùng này đều nhỏ, lưu lượng nước ít. Do vậy vùng này không có những bãi bồi lấn biển và không có những giải rừng ngập mặn ven biển. Rừng ngập mặn chỉ hình thành ở những nơi có đảo che chắn sóng, bờ mép bán đảo như Cam Ranh, Quy Nhơn và một số cửa sông.
Trên bãi triều thấp xuất hiện, quần thể đưng tiên phong. Trên đất chặt hơn xuất hiện quần thể đưng mọc với các loài cây xu ổi, vẹt dù, vẹt khang…
•Ven biển Nam Bộ: Khí hậu khu vực này là nhiệt đới ẩm không có mùa đông. Chế độ nhiệt là cận xích đạo. Lượng mưa hàng năm phân bố không đều. Vùng ven biển Nam Bộ tiếp cận ngay với hệ thống sông lớn là sông Cửu Long và sông Đồng Nai với nhiều phụ lưu tạo ra nhiều cửa sông bồi đắp một lượng phù sa rất lớn và một lượng lớn nước ngọt từ đất liền ra biển. Chính nhờ lượng phù sa bồi tụ này mà hàng năm lấn biển mở rộng thêm đất liền và thềm lục địa. Đây là môi trường tốt cho rừng ngập mặn phát sinh phát triển. Địa hình của khu vực này thấp, bằng phẳng hơn các khu vực khác. Sản phẩm bồi tụ hình tạo nên đất rừng ngập mặn phèn tiềm tàng, giầu hữu cơ. Ngoài ra, bờ biển Nam Bộ còn tiếp cận với quần đảo Malaixia và quần đảo Inđônêxia, là trung tâm của rừng ngập mặn. Do vậy cây rừng ngập mặn rất phong phú và có kích thước lớn.
+Từ mũi Vũng Tàu đến cửa sông Soài Rạp, nhiệt độ trung bình hàng năm là 27oC. Lượng mưa hàng năm khoảng 1.400 mm. Vùng này chịu ảnh hưởng trực tiếp của lưu lượng nước sông Đồng Nai. Chế độ bán nhật triều không đều. Độ mặn của nước biển tương đối cao khoảng 3%, biến động nhiều qua các tháng trong năm.
Sản phẩm bồi tụ ở đây giàu oxit sắt (Fe) và nhôm (Al), giàu sét. Đây là kiểu bồi tụ biển - sông. Phù sa có nhiều cát, đất đỏ nâu từ đá mẹ basalt, và ngập mặn phèn tiềm tàng.
Trên bãi triều mới bồi xuất hiện quần thể tiên phong bần trắng thuần loài nhưng ở dạng cây bụi. Trên bãi triều đã ồn định có quần thể tiên phong đước, bần trắng. Ngoài ra còn có xu ổi, trang, cốc kèn…Trên bãi triều có độ ngập 2 - 3m có quần thể đước đôi, xu ổi và dà vôi, mắm lưỡi đồng, và các loài khác như, xu sung, nét, dà vôi, cóc…Trên đất ngập triều từ 3 - 4m có quần thể giá, chà là, và các loài dà vôi, xu sung, ráng, cui biển, mây nước…
+Từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Mỹ Thạnh, lượng mưa hàng năm từ 1.500 - 1.900 mm. Vùng này chịu ảnh hưởng trực tiếp của lưu lượng nước thượng nguồn sông Cửu Long. Lưu lượng nước rất lớn, đạt tới 3400 m3/giây. Hàng năm, hệ thống sông Cửu Long bồi tụ khoảng 97 triệu tấn phù sa ở các cửa sông và kênh rạch. Sản phẩm bồi tụ phần lớn là cát, giầu thịt và sét. Chế độ thuỷ triều chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuỷ triều Biển Đông và thuộc chế độ bán nhật triều. Sự hoà nhập của dòng nước biển và dòng nước ngọt của sông Cửu Long tạo thành ở các cửa sông một vùng nước lợ. Vùng này bằng phẳng, bờ biển cạn, ít chịu ảnh hưởng của sóng gió lớn. Đất ngập mặn ở đây là không có phèn tiềm tàng, mùn trung bình, sa cấu biến động từ cát pha đến sét pha nặng.
Trước đây rừng ngập mặn tốt, che phủ dọc các triền sông, hiện còn thấy gốc cây bần, mấm (mắm) có đường kính tới 60 cm. Nay chỉ còn sót lại những khoảnh rừng mấm trắng ven sông, bần chua ở sát cửa sông và những dải dừa nước ven sông. Ở cửa Tiểu, trên bãi bồi trước cửa sông xuất hiện quần thể bần chua tiên phong. Diễn thế tiếp theo của quần thể bần chua là quần thể mắm trắng, đưng, và sú.Trên các kênh rạch có mắm lưỡi đòng, bần ổi, dà quánh, đưng, chà là.Dọc theo bờ các con sông lớn có các quần xã dừa nước, mái dầm, bần chua, ô rô gai, cốc kèn.
+Từ cửa sông Mỹ Thanh đến cửa sông Bảy Háp, khí hậu giống vùng Soài Rạp-Mỹ Thạnh. Lượng mưa hàng năm từ 1.900 - 2.500 mm. Vùng này nằm xa các cửa sông Tiền và sông Hậu nên ít chịu ảnh hưởng của sông Cửu Long mà chịu sự chi phối bởi lượng nước mưa. Chế độ bán nhật triều. Độ mặn tương đối cao và ít biến động khoảng 2-3%. Địa hình bằng phẳng, bờ biển cạn, ít chịu ảnh hưởng của sóng gió. Đây là nơi bồi tụ phù sa diễn ra mạnh nhất, hình thành nên những bãi bồi rộng lấn biển. Sản phẩm bồi tụ giàu sét. Đây là kiểu bồi tụ đầm lầy - biển. Có 4 loại đất: ngập mặn, ngập mặn phèn tiềm tàng, ngập mặn than bùn phèn tiềm tàng, đất sét giàu hữu cơ. Môi trường sinh thái này tạo điều kiện thuận lợi cho rừng ngập mặn phát sinh phát triển. Các loài cây ngập mặn phong phú và sinh trưởng đạt kích thước lớn nhất Việt Nam.
Nhóm cây rừng chịu mặn cao có mấm biển, mấm lưỡi đòng, mấm trắng, đước, vẹt tách… Quần thể mấm biển thuần loài ven biển trên bãi triều cao và trung bình. Cây cao lớn, đường kính đạt đến 35 - 50 cm. Quần thể mấm lưỡi đòng thuần loài hoặc ưu thế mọc chung với dà vôi, dà quánh. Cây cao lớn , đường kính đạt đến 30 - 40 cm. Quần thể thuần loài mấm trắng xuất hiện trên đất mới bồi, có khi xen lẫn mấm lưỡi đòng hoặc vẹt tách. Quần thể đước - vẹt tách xuất hiện trên đất sét chặt hai bên kênh rạch, đường kính đạt đến 15 - 20 cm. Quần thể mắm - đước xuất hiện trên nền đất bùn sét hơi nhão. Ngoài ra còn có các quần thể mấm trắng, quần thể cóc vàng - dà quánh v.v…
+Từ cửa sông Bảy Háp đến mũi Nãi, Hà tiên, là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa không có mùa đông. Lượng mưa trung bình 2.100 - 2.400 mm. Vùng này nằm xa các cửa sông lớn, chỉ có hệ thống sông nhỏ, kênh rạch và ít chịu ảnh hưởng của các dòng nước thượng
nguồn. Chế độ nhật triều chịu ảnh hưởng của vịnh Thái Lan. Độ mặn của nước tương đối cao và ít biến động trong năm. Địa hình thấp và bằng phẳng. Các sông và kênh rạch nối liền nhau thông ra biển nên biên độ triều lớn. Đất bồi tụ giàu cát. Vùng này có 4 loại đất: ngập mặn phèn tiềm tàng chiếm diện tích nhiều nhất, đất cát, đất giàu hữu cơ, đất ngập mặn than bùn phèn tiềm tàng.
Hệ thực vật rừng ngập mặn ở đây không phong phú và sinh trưởng tốt như vùng lân cận. Quần thể cây ngập mặn viền theo ven biển với thành phần chính là mấm trắng, mấm lưỡi đòng, cây cao không quá 15 m. Kế tiếp là rừng tràm.
Hệ thực vật rừng ngập mặn Việt Nam bao gồm 47 họ thực vật. Số lượng loài cây nhiều ít tuỳ vùng: vùng ven biển bắc Bộ có 52 loài, vùng ven biển Trung Bộ có 69 loài, vùng ven biển Nam Bộ có 100 loài. 5 họ thực vật có vai trò chính là họ Đước (Rhizophoraceae), họ Mấm (Avicemiaceae), họ Bần (Sounerratiaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae) và họ Dừa (Palmae). Những vật rơi rụng phong phú và đa dạng của thảm thực vật cây ngập mặn tạo ra môi trường sinh thái vô cùng thuận lợi cho hệ động vật rừng ngập mặn phát triển.
6.2. Các phân vùng sinh thái có kiểu rừng Sác
Khu vực Đông Bắc
-Rừng ngập mặn ven biển Đông Bắc (#15): rừng ngập mặn Đông Bắc có một hệ thực vật gồm những loài chịu mặn cao, không có các loài ưa nước lợ điển hình, trừ ở các bãi lầy nằm sâu trong nội địa và một phần phía nam sông Bạch Đằng. Các thảm thực vật ngập mặn chủ yếu là:
+ Mắm biển (Avicennia marina) mọc thuần loại trên bãi mới bồi.
+ Hỗn hợp Rhizophora stylosa (Đâng), Kandelia candel (Trang), Bruguiera gymnorrhiza (Vẹt dù) trên các bãi ngập triều trung bình.
+ Bruguiera. gymnorrhiza (Vẹt dù) trên các bãi ngập triều cao.
+ Hỗn hợp Excoecaria agllocha (Giá), Lumnitzera racemosa (Cóc trắng), Scyphyphora sp. (Côi), Myoporum bontioides (Chọ) trên các bãi ngập triều thật cao. Trên các bờ đầm ít khi ngập triều có các cây chịu mặn không chịu tác động trực tiếp của thuỷ triều gồm các loài như Xylocarpus obovatus (Xu ổi), Heritiera littoralis (Cui), Hibiscus tiliaceus (Tra làm chiếu), Cerbera manghas (Mướp xác), Thespesia populnea (Tra bồ đề), Scaevola tacada (Hếp), Clerodendron inerme (Ngọc nữ biển).
-Đảo Đông Bắc bộ, Cát bà, Bạch Long Vĩ (#16): rừng ngập mặn ven biển thường tạo thành những quần thể hỗn hợp gồm các loài đâng (đưng) (Rhizophora stylosa), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), Trang (Kandelia canden)… Tầng tán rừng thường cao khoảng 2-3m, dưới tán rừng là các loài cây gỗ nhỏ và cây bụi như Sú (Aegiceras corniculatum), mấm biển (Avicennia marina)… tạo thành lớp thảm cao trên dưới 1m.
-Ngập mặn đồng bằng Bắc Bộ (#18): rừng ngập mặn ven biển với tính đa dạng thấp hơn ở khu vực Đông Bắc do điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sự định cư và phát triển của các loài cây ngập mặn.Quần thể cây ngập mặn chủ yếu ở vùng này đặc trưng bởi những loài cây ưa nước lợ như Bần chua (Sonneratia cáeolaris), Sú (Avicenia corniculatum), Ô rô (Acanthus ilicifolius) tạo thành tầng cây bụi, nhiều chỗ có xen lẫn Trang (Kandelia candel) hay Cói (Cyperus malaccensis) mọc thành từng đám nhỏ
Khu vực Đông Nam Bộ:
-Ngập măn ven biển Đông Nam Bộ, Cần giờ (#43): rừng ngập mặn ven biển gồm có: quần thể thuần loài Bần trắng (Sonneratia alba) tiên phong trên bãi mới bồi ngập triều sâu; quần xã Đước (Rhizophora apiculata) và Bần chua (S. alba) trên bãi bồi đã ổn định; và quần xã Đước (R. apiculata) và Xu (Xylocarpa granatum) trên đất ngập sâu 2-2,5m; quần xã Đước (R. apiculata) và Dà vôi (Ceriops tagal) và quần xã Mấm (Avicenia officinalis) và Dà quánh (C. decandra) trên đất ngập triều cao; quần xã Giá (Excoecaria agalocha) và Chà là (Phoenix paludosa) trên đất ngập triều thật cao.
Vùng nước lợ dọc theo các mép sông gồm có: quần thể Bần chua (S. caseolaris) ở những nơi ngập triều từ 1 đến 1,5m, quần xã Mái dầm (Cryptocoryne ciliate), Ô rô (A. eberacteatus) và Dừa nước (Nypa fruticans) ở những nơi ngập triều từ 1,5m-2m, quần xã Mãng cầu (Annona reticulata) và Mây nước (Flagellaria indica) ở những nơi ngập triều 2m-3m, quần xã Mua (Melastoma polyanthum) và Sưa biển (Dalbergia candenatensis) ở những nơi cao ngập khi triều cao 4m.
Hiện tại, đây là khu vực có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất Việt nam.
-Côn đảo (#44): rừng ngập mặn ven biển phân bố chủ yếu ở xung quanh Hòn Ba và dọc bờ biển phía tây của Côn Đảo. Rừng ngập mặn vùng Côn Đảo được đặc trưng bởi các loài Vẹt (Bruguiera gymnorhiza), Mấm (Avicennia alba) và Đước đôi (Rhizophora mucronata).
- Có rất ít rừng sác dọc duyên hải vùng Trung Bộ, thường chỉ là rải rác những vạt cây bụi thưa thớt những nơi có đọng bùn.
Khu vực Tây Nam Bộ:
-Ngập mặn Tây Nam Bộ (#46): đây là rừng ngập mặn có tính đa dạng thực vật ngập mặn cao nhất ở Việt Nam, cả về số lượng chủng loài, kích thước lớn của cây.
Các quần xã rừng ngập mặn gồm:
+Quần thể Mấm biển (Avicennia marina) trên nền đất cát bùn sét, ngập triều trung bình hoặc cao; quần thể Mấm lưỡi đòng (A. officinalis) trên nền đất bùn sét hơi chặt ngập triều trung bình; quần xã Mấm trắng (A. alba) trên đất mới bồi, nền đất là bùn mềm, ngập triều thấp.
+Quần xã Đước (Rhizophora apiculata )- Vẹt khang (Brugiera
parviflora) trên nền đất sét hơi chặt, ven kênh rạch, ngập triều trung bình; quần xã Mấm trắng (Avicennia alba) - Đước (Rhizophora apiculata) trên nền đất bùn sét nhão, ngập triều trung bình ở gần biển, nơi cửa sông, kênh rạch.
+Quần xã Cóc vàng (Lumnitzea racemosa) – Dà vôi (Ceriops tagal) trên những vùng đất cao; quần thể Giá (Excoecaria agallocha) trên vùng đất cao gần biển, Quần thể Chà là (Phoenix paludosa) trên nền đất sét hơi rắn ít khi ngập triều; quần thể Dừa nước (Nipa fruticans) nằm sâu trong các kênh rạch, nơi nước lợ.
-Hải đảo Tây Nam Bộ, đảo Phú Quốc (#47): rừng ngập mặn, phân bố thành vệt ở các cửa rạch. Các loài cây thường gặp là Đước đôi (Rhizophora apiculata), Vẹt (Bruguiera gymnorhiza), Bần (Sonneratia alba), Cóc (Lumnitzera racemosa), Giá (Excoecaria agallocha). Đặc biệt chỉ nơi đây mới thấy xuất hiện loài Cóc đỏ (Lumnitzera rosea) mà không nơi nào ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có loài này (có thể loài lai Lumnitzera littorea x racemosa chăng?)
Vài sinh cảnh rừng sác
7. Kiểu Rừng Tràm
7.1. Sinh thái rừng Tràm
Rừng Tràm có diện tích đáng kể ở đồng bằng sông Cửu Long, có trên bốn vùng: Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, U Minh Thượng và U Minh Hạ.
Hệ sinh thái này phân bố ở độ cao dưới 2m, nơi trũng chỉ 0.5 m. Khí hậu thuộc nhiệt đới gió mùa không có mùa đông, cận xích đạo. Nhiệt độ trung bình năm 27⁰C , biên độ nhiệt chỉ từ 3 – 5⁰C. Lượng mưa hằng năm 150 – 240 cm. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, và chiếm đến 90% lượng mưa cả năm gây ngập úng phèn ở nhiều nơi. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Tháng 3 và tháng 4 có độ ẩm không khí thấp nhất,75%, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng.
Chế độ nước ở đây tuỳ thuộc chế độ mưa, chế độ nước hệ thống sông Cửu Long và chế độ thuỷ triều mang nước mặn từ biển vào lục địa.
Nhiều vùng trũng thấp ngập sâu đến 2 m như Đồng Tháp Mười, thời gian ngập kéo dài 4 tháng hình thành nên những vùng úng thuỷ nước phèn. Đến cuối mùa khô, muối mặn xâm nhập vào sâu trong nội địa. Đến mùa mưa, nước mưa hoà tan phèn trong đất gây ra hiện tượng nhiễm phèn. Chế độ ngập nước của rừng tràm như sau:
-Ngập nông dưới 50 cm. Thời gian ngập từ tháng 6 đến tháng 12, nơi ít chịu ảnh hưởng hệ thống sông Cửu Long.
-Ngập trung bình từ 50 - 150 cm. Thời gian ngập nước từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau, chịu ảnh hưởng nhẹ của hệ thống sông Cửu Long.
-Ngập nước sâu trên 150 cm. Thời gian ngập nước hàng năm kéo dài hơn 9 tháng, chịu ảnh hưởng mạnh của hệ thống sông Cửu Long.
Độ mặn của nước biến động từ 0.5-2 %.
Rừng tràm là hệ sinh thái hình thành trên đất phèn. Tầng sinh phèn xuất phát từ trầm tích đầm lầy biển (phèn nặng), trầm tích đầm lầy đồng bằng và trầm tích đầm lầy sông (phèn trung bình và phèn nhẹ). Do bị ngập nước nên môi trường đất bị thiếu oxy cho cây. Ngoài ra, nước còn chứa các chất độc như nhôm, sắt và sulphat. Tầng sinh phèn khi tiếp xúc với không khí sẽ biến từ phèn tiềm tàng sang phèn hoạt động.
Đất rừng phèn có hai nhóm chính:
•Nhóm đất phèn nặng và trung bình, theo Phùng Trung Ngân do con người đào kênh, lên líp hoặc do được rửa phèn nên đất đã được cải tạo một phần. Vùng Tứ Giác Long Xuyên và U Minh cũng có đất phèn, chia làm hai loại: bị nhiễm mặn và không bị nhiễm mặn.
•Nhóm đất than bùn, theo Phùng Trung Ngân, đặc biệt ở vùng U Minh còn có nhóm đất than bùn. Do môi trường ngập nước, yếm khí nên các chất hữu cơ là xác chết thực vật động vật không được phân huỷ hoàn toàn, tích luỹ lâu dài hình thành nên tầng than bùn. Tầng than bùn có tác dụng quan trọng là hạn chế quá trình phèn hoá và giữ cho mực nước ngầm không bị rút xuống trong mùa khô. Tuy nhiên, than bùn cũng là nguyên nhân của hiện tượng cháy ngầm lâu, rất khó chữa. Nhóm đất này cũng chia làm hai loại: có phèn tiềm tàng và không có phèn tiềm tàng.
Cấu trúc rừng:
Loài tràm trước đây có tên khoa học là Melaleuca leucadendron. Từ năm 1993, tên khoa học loài tràm đã được xác định lại là Melaleuca cajuputi (Scott Poynton, 1993). Loài tràm ở Việt Nam có ít nhất 2 thứ (variety) là tràm cừ, và tràm gió. Tràm cừ phân bố tự nhiên trên đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long. Tràm gió phân bố tự nhiên ở Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, trên những vùng đồi núi thấp, trong nội địa hay ven biển. Tràm cừ là loại tràm có kích thước lớn, cây thân gỗ có chiều cao từ 15 - 20 m và đường kính 30 - 40 cm. Thân cây tràm cừ vặn vẹo, vỏ dầy mầu trắng xám, tán nhỏ, tương đối dày, cành nhỏ và lá hơi rủ.
Do hệ sinh thái rừng tràm hình thành trong điều kiện môi trường úng phèn, chỉ có một số loài cây thích nghi tồn tại được, nên cấu trúc rừng đơn giản về loài cây và tầng rừng. Chiều cao rừng 20- 25 m, đường kính 40 cm.
-Theo Phùng Trung Ngân, rừng cực đỉnh tự nhiên là các ưu thế dồ (vồ) mốp, dồ trâm, dồ bùi…Theo Thái Văn Trừng (1999), thì đây là kiểu rừng cây gỗ hỗn giao nhiều loài thuộc hệ sinh thái rừng úng phèn. Thành phần rừng là loài cây tràm gần như thuần loài mọc với mốp, trâm, bùi v.v... Rừng có cấu trúc tầng cây gỗ chính cao 15 - 17 m. Tầng cây bụi, loài cây chiếm ưu thế là mua. Tầng thảm tươi gồm có choại, dớn…Thí dụ về dồ Mốp, là một trong những ưu thế hình thành trên đất than bùn. Dồ mốp có cấu trúc rừng 3 tầng. Tầng vượt tán là cây mốp (Alstonia spatulata). Tham gia vào thành phần rừng còn có các loài cây trâm, bùi, sẻ, côm, nhum, cao nước, gừa, bí bái, xương cá v.v…
Tầng cây bụi gồm có mua, mật cật (Licuala spinosa) v.v… Rừng có nhiều dây leo, trong đó có hai loại dương xỉ là choại (Stenochlaena palustris) mọc sát mặt đất và dớn (Blechnum serrulatum). Ngoài ra còn có một loài dây leo đơn tử diệp là mây nước (Flagellaria indica). Phùng Trung Ngân coi đây là kiểu rừng đỉnh sinh thái nguyên thuỷ, trước đây có tràm mọc hỗn giao, nhưng khi bị lửa cháy thì các loài cây hỗn giao với tràm bị tiêu diệt, chỉ còn lại tràm chịu được lửa và úng phèn nặng nên phát triển thành rừng tràm thuần loài. Đây chính là rừng thứ sinh hình thành sau rừng cực đỉnh nguyên thuỷ bị lửa cháy. Trong rừng thứ sinh này, tràm là loài mọc gần như thuần loài, cao đến 20 - 25 m, đường kính đạt 40 cm. Tầng cây bụi có mua và tầng thảm tươi vẫn còn choại, dớn của thế hệ rừng trước đây.
-Ngoài rừng tràm trên đất than bùn như trên, còn có rừng tràm trên đất sét. Đây là cấu trúc rừng tràm thuần loài một tầng. Cây bụi thưa thớt, có mua. Dây leo ít, chỉ còn dớn. Loài sậy xuất hiện xâm chiếm các chỗ trống. Tầng than bùn đã bị thiêu cháy, chỉ còn lại một lớp mỏng hoặc trơ đến đất sét, không giữ được ẩm. Nguy cơ cháy rừng về mùa khô rất lớn.
7.2. Các phân vùng sinh thái có kiểu rừng Tràm
Ở Việt Nam Tràm phân bố trên những diện tích nhỏ ở Bắc cạn, Thái nguyên, Vĩnh phúc, Hải dương, Hà tây, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, Thừa thiên, Quảng nam, Quảng ngãi, Phú yên, Khánh hoà, Ninh thuận, Bình thuận, Đồng nai, Bà rịa, Vĩnh long.
Tràm phân bố trên diện tích rộng nhất là ở Tây Nam bộ, Long an, Đồng tháp, An giang, Kiên giang, Cà mau.